Bài 10 Sơ cấp

HTNM Tập 6: Chữ 鷰 – Yến

Mời đồng học mở sang trang tiếp theo. Chúng ta xem chữ yến. Chúng ta lại dành một chút thời gian quan sát chữ giáp văn biến đổi dần sang chữ tiểu triện, biến đổi dần sang chữ lễ thư và cuối cùng sang chữ khải thư mà chúng ta đang dùng. Khi quan sát thì các đồng học hãy dùng cái trí tưởng tượng của mình à mô phỏng với từ từ chữ à giáp văn sang tiểu triện, sang lễ thư, khải thư từng phần một mô phỏng như thế nào. Sau khi a quan sát xong à chúng ta mới đọc sang cái phần phía dưới. Yến là tượng hình của con chim én, tức là yến tử. Chữ giáp văn mô phỏng con chim én đầu hướng lên trên đang tung cánh bay lên. Chữ tiểu triện được biến đổi từ chữ giáp văn mà ra. Phía trên mô phỏng chiếc mỏ như chiếc kìm nhỏ của chim én. Ở giữa mô phỏng lưng và thân của nó. Phía dưới mô phỏng đuôi trẻ đặc trưng của nó. Hai bên thân lưng mô phỏng đôi cánh đang răng rộng khi bay. Chú thích thuyết văn chép huyền điểu dã nhiếp khẩu bố xí chi vĩ tượng hình nghĩa là yến mô phỏng loài chim màu đen tức gọi là huyền điểu. Mỏ hình cái kẹp cánh răng đuôi trẻ. Đây là chữ tượng hình. Ý nghĩa thấy trong điển tịch một là tiệc tùng tức là yến ẩm. Mượn âm chữ yến để giả tá cho chữ yến trong yến tiệc. Thi kinh lục minh chép. Ngã hữu chỉ tửu gia tân thức yến dĩ ngao. Nghĩa là ta có rượu ngon, khách quý hãy vui vẻ thưởng thức yến tiệc. Lời bàn: Hai chữ yến trong chữ yến tiệc và chữ yến ở trong con chim én. Hai chữ này trong phiên thiết đều thuộc bộ 14 và nhóm vận mẫu thứ 14. Hai chữ đều là đồng âm cho nên có thể dùng thay thế cho nhau. Ý nghĩa thứ hai là một tên nước chư hầu thời Xuân Thu đọc là Yên là nước Yên. Tả truyện Ẩn Công Ngũ Niên chép Vệ Nhân Dĩ Yên sư Phật Trịnh. Người nước Vệ liên kết với quân nước Yên để đánh nước Trịnh. Ý nghĩa thứ ba, khinh mạn xuồng xã, lễ ký, học ký chép yến bằng nghịch kỳ sư. Nghĩa là bạn bè xuồng xã khinh nhờn thì sẽ ngỗ nghịch với thầy. Từ thường dùng là yến tử, nghĩa là chim én và hải yến nghĩa là chim én biển. Đây là phần à giải thích của giáo sư Lưu Khắc Hùng ở trong sách. Chúng ta thử xem vẽ con chim én. Con chim én thì có cái đầu, có hai cái mỏ à chúng ta mỏ hình kẹp đúng không ạ? Rồi lại có cái thân như này. Có hai cái cánh nó rang ra. Rồi phía dưới là cái đuôi trẻ của nó đặc đặc trưng. Đây là chữ tượng hình cái chi cái cái cánh của nó thể thêm như thế này nữa mới giống con đó. Lên cánh đây là chữ tượng hình ngày xưa đấy. Sang chữ tiểu triện thì viết chúng ta thấy nó sẽ khác một chút. Đây ở trên này là hình cái đầu ở dưới là hình cái thân. Đó. Bên này là hình hai cái cánh. Chúng ta thấy không? Hai cái cánh như thế này. Và ở dưới là cái đuôi trẻ đặc trưng của nó. Đây là chữ tiểu triện. À chữ tiểu triện sẽ viết như thế này. Chúng ta nhìn thấy đây là sự biến đổi. Nó tương đối là từ chữ giáp văn mà sang chữ tiểu triện thì nó có phần giống giống. Đúng không ạ? Rất tượng hình có cánh. Tú nhân nhìn thấy con chim én thì có cánh có thân, có đầu, có mỏ, có đuôi. Đây là con chim én. Một cánh én nhỏ chẳng làm nên mùa xuân. Đấy. Đây là con chim én gọi là à chữ yến. Đến bây giờ đến khúc chúng ta sang chữ Khải Thư. À các đồng học xem và hãy xem chữ mẫu đến lượt chúng ta viết chữ nhá. À chữ khải thư thì viết như thế nào? Chúng ta nhìn à vào chữ mẫu và sau đó chúng ta hay tập viết. Tạm dừng lại video nhìn chữ mẫu. À tập viết. Nhìn chữ mẫu thì các đồng học sẽ nhìn thấy rất là rõ ràng từng nét từng nét một. Chúng ta tập viết rất là dễ dàng và nên viết nhiều. Viết đến khi quen thì chúng ta lại tiếp tục quay lại nghe giảng. Rồi mời các đồng học chúng ta à nhìn lên phía trên. Chúng ta nhìn chữ khải thư. Đây là giáp văn, kim văn và chữ khải thư ngày nay chúng ta dùng. Chúng ta thấy vẫn còn giữ cái hình dáng đúng không ạ? Trên này là cái đầu, cái mỏ, ở giữa là cái thân, hai cái cánh hai bên, ở dưới là đuôi. À nhớ nhá, đây là cái đuôi. Chúng ta đừng nhìn vào chữ này rồi là đặc biệt là các đồng học mà chúng ta học từ 214 bộ, chúng ta suy đoán ở dưới này là bộ hỏa. Không phải đâu. Đây là cái đuôi rất nhiều à con vật đều dùng. Cái này đều dùng bốn cái dấu dấu chấm dưới này để tượng hình cho cái đuôi của nó. Ở trong a sách thuyết văn à có nói là gì? À huyền điểu dã. À huyền điểu. Huyền là đen. Huyền điểu là con chim màu đen. Chúng ta thấy con chim én màu gì? màu đen. À cứ mùa xuân là chúng ta thấy con chim én bay đầy trời à màu của nó là màu đen. Chúng ta tra cứu ở trên mạng cũng có thể thấy nếu đồng học ở thành phố thì ít khi nhìn thấy còn chim én. Nhưng mà ngày xưa thì nhìn thấy rất là nhiều. Nó là màu đen. Yến thường có màu đen. Màu khác thì chúng ta cũng chưa biết. cũng có thể có không nói nhưng thường là màu đen nhưng mà à đến chữ gần như là chúng ta ở chữ tượng hình tượng hình của cái chữ giáp văn nhìn rất là rõ nhưng mà sang chữ kim văn chữ lệ thư à sang chữ tiểu triện lệ thư và khải thư chúng ta nhìn thấy cũng không rõ hình con yến con chim én nữa rồi nó không ra giống trên chim én đó là dùng cái nét chữ để mô phòng thôi cho nên bốn dấu chấm bốn dấu chấm chấm ở dưới là tượng hình cho cái đuôi nhá. Bây giờ ví dụ như chúng ta nhìn thấy à bốn dấu chấm này viết rất nhiều. Bây giờ chúng ta mạn đàm thêm một chút từ cái bốn dấu chấm này từ phía dưới đuôi nhá. Các đồng học nhìn chữ này là chữ gì? Chữ này là chữ chữ nhiên nhiên trong thiên nhiên ấy. Nhưng mà chữ nhiên này nghĩa gốc nó không phải vậy. Đấy. Chữ nhiên này à trong nghĩa gốc nó không phải vậy. À chúng ta biết chữ gì đây không? Bên này là bên này là chữ gì? Đây là chữ gì? Cái này là chữ nhục nó nó biến đổi từ chữ này. Chữ nhục. Nhục thịt. Rồi nhục. Cái này là chữ gì? Chúng ta hôm trước bàn nhiều rồi. Chữ khuyển là con chó đúng không ạ? Khuyển là con chó. Nhục khuyển là gì? Thịt chó. Dưới này là bộ hỏa. Đây là nướng thịt chó. Các đồng học Phật thì chúng ta nghe chỗ này chúng ta cảm thấy sát sinh đúng không ạ? Nhưng mà chúng ta học Phật thì chúng ta cầu chân, chúng ta không được à chấp vào à ngôn từ, không được dính mắc vào đó. Cầu chân nghĩa là gì? Chúng ta truy tìm xem cái nguồn gốc của này vốn dĩ nó là gì. Ví dụ chữ nhiên này ban đầu nó là gì? Nó là miêu tả hình người xưa là dùng để nướng thịt chó. Đến sau này thì người ta dùng chữ nhiên cho chữ tự nhiên. Dần dần chữ nhiên cho chữ tự nhiên. Cho nên là mượn dùng lâu ngày thì thành cái chữ dùng hiện tại. Nhưng mà bốn cái dấu chấm này nó không giống bốn dấu chấm kia. Đấy, bốn dấu chấm này là thể hiện cho lửa đốt ở dưới. Nhưng bốn dấu chấm ở bên chữ yến ấy của chúng ta ấy là thể hiện được cái đuôi nó hoàn toàn khác nhau. Cho nên khi mà phân tích về chữ, về văn tự, chúng ta không học từ sơ văn thì chúng ta tự nghĩ rằng bốn dấu chấm đấy là bộ hòa. Nên không phải. Cái đó thực ra là à là gọi là chữ gọi là cái đuôi thôi. Chữ nhiên này th thông thường người ta ví dụ chữ nhiên này là là thiêu chẳng hạn là là thiêu đốt chẳng hạn. Người ta hay thêm ví dụ thêm trước bộ hỏa nữa thì nhìn cho nó cho nó rõ. thêm chước bộ hỏa lên nữa thì nghĩa là thiêu đốt. Nghĩa là thiêu đốt. Thêm bộ hỏa phía trước nữa. Thì ý nghĩa của nó lại là cũng là chữ nhiên, đọc là nhiên gọi là cháy. Đấy, ở dưới bộ hỏa dưới thì đốt mà bộ hỏa bên cạnh thì là cháy lên rồi thì gọi là chữ này gọi là cháy. Nên là chữ nhiên là như thế. chữ nhiên này lửa ở dưới lửa trên con chó này chắc là cũng tương đối đau cho nên là chúng ta cũng thấy thương đúng không ạ? Phát khởi lòng từ bi. Chúng ta phải chuyển ngay cái tâm của chúng ta à hiểu nghĩa chân rồi thì phải tìm hiểu thêm cái ý nghĩa của nó. À chúng ta phải thêm vài chữ mà có cái dấu chấm ở dưới nữa là lần sau chúng ta sẽ học nhưng mà chúng ta tìm hiểu trước một chút. Ví dụ như là chữ ngư ngư là con cá. Đây là đuôi cá. Đấy. Đây là đuôi cá. hay là chữ chúng ta chuẩn bị học là chữ điểu. Điểu cũng có bốn dấu chấm này. Điểu cũng có bốn dấu chấm này. Thì bốn dấu chấm này là cái đuôi. Cho nên thực tế hiện nay nhìn thì giống nhau nhưng thực tế cái gốc nó là khác nhau. Gốc ch khác nhau. Cho nên chúng ta cần phải hiểu được cái gốc của nó. Nếu không hiểu được cái gốc của nó ấ là chúng ta suy đoán lung tung hết. Nên chữ giáp văn ấy, chữ Hán mà chúng ta học là nó biến đổi từ giáp cốt văn, kim văn, tiểu triện. Nó biến đổi dần dần. Có khi là những chữ hiện tại chúng ta nhìn là chữ Khải Thư nó không nhìn giống chữ gốc nữa nên sai sai khác nhau rất là nhiều. À nên có rất nhiều nhà à văn tự học, nhiều người mà chuyên sâu vào chữ Hán ấy, các vị đều nói là chữ Lệ Thư, chữ Khải thư vốn dĩ đã phá hoại đi hình tượng gốc của chữ Hán rồi. Chữ tiểu triện thì vẫn còn giữ được tương đối. Nhưng mà sang Lệ Thư, Khải Thư là phá hoại lớn thì hình tượng của chữ Hán. Nhưng mà vấn đề ở chỗ là gì? May mà hiện tại chúng ta cũng tương đối quen rồi cho nên là mường tượng ra được. Mường tượng ra được. Thế bây giờ hiện người hiện đại, người Trung Quốc hiện đại lại vẽ ra một cái loại nữa gọi là loại chữ giản thể. Chúng ta thấy ấ nguy hiểm. Chữ giản thể cực kỳ nguy hiểm. Nên chư giản thể là làm gần như phá hoại hoàn toàn đi cái văn hóa truyền thống của người xưa để lại. Đấy, ví dụ như là chúng ta nói chữ giản thể, một chữ mà như thế này để chúng ta thấy khi đọc chữ giản thể cái ý nghĩa đã hoàn toàn là khác biệt rồi. Bây giờ người những nước những nơi còn dùng chữ phồn thể như là Đài Loan, Hồng Kông thì họ vẫn còn hiểu được một chút chút về cái nghĩa gốc. Nhưng mà sang chữ chữ giản thể ví dụ như là chúng ta nói chữ ái. Chữ ái đây là chữ ái, chữ gốc như thế này. Ở giữa là chữ tâm, ở ngoài là chữ thụ, dùng trái tim để mà cảm thụ nhu cầu của người khác. Nghĩa gốc của nó là như thế. hiện nay chuyển sang chức dàn thể thành như thế này. Đây là chữ giản thể mất đi trái tim. Cho nên có nhiều người nói là ngày nay yêu không còn trái tim, không dùng à tâm để yêu nữa, không dùng trái tim để yêu nữa mà dùng vật chất. Cho nên a chúng ta học tập thì đặc biệt là những người như chúng ta đang học Hán Tự nhập môn, tức là chúng ta học gốc về chữ thì chúng ta phải nhớ à người xưa tạo chữ ý nghĩa rất là hay. Chúng ta học văn hóa truyền thống là chúng ta học từ cái văn tự này chúng ta hiểu được cái nghĩa gốc thì bản thân chúng ta cũng có một cái sứ mệnh rất là lớn. Chúng ta có sứ mệnh gìn giữ những cái chữ gốc này. Dìn giữ để những chữ gốc này sau này còn tiếp tục phát huy cho đến ngàn vạn năm sau để cái gốc này nó còn lưu chuyển nó phát huy. Đây là trách nhiệm của những người học tập như chúng ta. Cho nên tăng tử nói sĩ, sĩ là gì? Sĩ bất khả dĩ à gọi là sĩ bất khả dĩ, bất hoàng nghị. Có một câu như thế này. Tăng tử nói về người sĩ, tức là người đi học. Sĩ bất khả dĩ bất hoàng nghị. À cái này không viết ra bởi vì có nhiều đồng học chúng ta à mới học viết ra nhiều chúng ta sẽ choáng. Đại khái ý nghĩa là à hoằng có nghĩa là lớn, nghị có nghĩa là cương nghị, là kiên nhẫn. Đấy, một người thì phải có tinh thần, một người gọi là sĩ thì phải có tinh thần hoàng nghị thì mới có thể di truyền được, mới có thể truyền lại được cái di sản quý báu của tổ tiên để lại. Thực ra phải có cái sức kiên nhẫn rất là lớn. Đặc biệt là chúng ta học Hán học thì chúng ta còn phải phát huy vì đó là cái trách nhiệm của chính chúng ta. Cho nên chúng ta học cái này ấy, bây giờ tuổi còn trẻ chúng ta còn học thì đến tuổi về già chúng ta vẫn học, tuổi về già chúng ta vẫn làm việc này. Bây giờ à chúng ta 45 50 tuổi đến 7 80 tuổi có lẽ chúng ta vẫn làm việc này. Cho nên đây là với văn hóa truyền thống ấy thì không được để đứt đoạn. Thực ra tiếng Việt chúng ta hình thành được từ chữ Hán rất là nhiều. lấy từ nghĩa của chữ Hán mà hình thành nên tiếng Việt rất là nhiều và tiếng Việt thực sự rất đẹp, tiếng Việt thực sự rất hay. Nếu có thể khôi phục lại được chữ Hán, chữ Nho thì phải nói là tuyệt vời. Cho nên trách nhiệm đặt lên vai của chúng ta rất là lớn. Chúng ta phải hiểu cái trách nhiệm này để mà cùng nhau học tập. À cho nên là à chúng ta học tập thì chúng ta luôn luôn giữ được cái lửa này thì khó khăn mấy chúng ta cũng có thể nỗ lực vượt qua. Vì à nét đẹp của trong văn học, của trong văn hóa truyền thống. Vì nét đẹp của những tư tưởng, những triết lý mà tổ tiên chúng ta đã điền đã truyền thừa lại thì chúng ta phải học cho đúng gốc. Thì một chút mạn đàm là khi chúng ta học về chữ yến, về sự biến đổi của nó, về chúng ta nhìn thấy cái sự khác biệt bốn cái dấu chấm ở phía dưới ấy nó khác so với cách xúc chúng ta suy nghĩ này để cho độc học thấy được cái trách nhiệm của chúng ta phải lấy đ lại được cái gốc của nó. Đây là cái trách nhiệm. Đây là nói về chữ yến ha. Chúng ta xem ở trong sách thì chúng ta thấy cũng rất đơn giản rồi. Các đồng học đã biết chữ rồi chúng ta nên viết lại những cái câu ở trong này nhé. Nên chép lại. Chép nhiều chúng ta sẽ nhớ. M.

Thuật ngữ trong bài

燕 Yến