[Sub được tạo tự động]
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả quý vị đồng học. Xin mời ngồi. Xin mời mở sách Hán tự nhập môn. À chúng ta tiếp tục học tập phần hôm trước. Tiết trước chúng ta đang học đến phần à hình, âm và nghĩa là ba yếu tố tạo nên chữ Hán. tiết trước cũng đã trao đổi qua với các đồng học về hình âm và nghĩa.
(00:54) Thế chúng ta biết được rằng à việc tạo ra chữ của người xưa không phải là không có căn cứ, không phải là tùy tiện mà tạo ra. Cho nên là kể cả đối với âm đọc của chữ cũng không phải là tùy tiện mà tạo ra. hôm trước đã trao đổi với các đồng học về ba yếu tố này. Hôm nay nhắc lại một chút ngoài cái yếu tố về tượng hình ra, hình của chữ ra thì việc tạo ra chữ theo âm thanh có thể sử dụng ở trên rất nhiều phương diện là ví dụ như là nói về mô phỏng âm trực tiếp của vật.
(01:43) là hôm trước có trao đổi với đồng học ví dụ như âm thanh của con hổ kêu chẳng hạn là hao ví dụ như thế hao tức là con cổ hổ kêu gầm nó kêu gào lên ấy thì người ta dùng cái chữ đấy chữ hổ kèm theo bộ khẩu để tạo nên cái âm hao là tiếng hổ gầm hay là mô phỏng hình dạng của đổ của đồ vật như là hình dạng của à sông của dòng sông là cũng là mô phỏng hình dạng của vật.
(02:23) Thứ ba là âm của chữ à dùng để mô phỏng nghĩa của vật. Ví dụ như à chúng ta nói đến chữ táng trong chữ mai táng ấy thì chữ táng này à được tạo ra dựa vào lấy cái âm của chữ táng tức là chôn dấu à cất dấu đi. Cái nghĩa của nó là cất dấu. Còn khi mà mai táng táng này trong mai táng này thì ở trên à chúng ta có bộ thảo, ở giữa là ở giữa là có chữ từ.
(02:59) À nói về mai táng người mất nhưng mà vẫn đọc là táng lấy ý nghĩa là à là cất là chôn dấu, tức là chôn cái thi thể của người mất đi. Hay là chữ hộ trong chữ nhà. Chữ hộ trong chữ nhà. À đây là lấy chữ hộ trong chữ nhà. Ví dụ đây là chữ hộ chẳng hạn. Chữ hộ này là nghĩa là nhà. Nhà này đây là lấy cái âm của chữ hộ của chữ bảo hộ.
(03:40) Âm chữ hộ của chữ bảo hộ là mục đích nó là gì? Nhà là nơi bảo hộ sinh mạng và tài sản là lấy cái âm đấy. Ấy nói về đấy là nói về âm. Chúng ta thấy mỗi một âm chúng ta ngày nay từ ngữ chúng ta dùng đều có căn cứ sử dụng, không phải tùy tiện tạo ra. Nhưng hiện nay chúng ta tạo ra rất nhiều cái từ mới nhưng mà không theo quy tắc, không có căn cứ gì cả.
(04:10) Thứ ba là nói về nghĩa của chữ. Nghĩa của chữ, tức là chữ được tạo ở trên a mặt nghĩa. Thì à hôm trước nói với các đồng học thì hôm nay nói lại một chút về cái điểm này để chúng ta hiểu rõ hơn. Ở đây thầy Lưu Khắc Hùng có nói với chúng ta lấy các chữ sơ khai để làm ví dụ như là chữ nhật là mặt trời, chữ nguyệt là mặt trăng, chữ xuyên là sông thì một mặt nó có thể dùng các hình thể như là mặt trời.
(04:55) Đây là ví dụ chúng ta nhìn thấy chữ nhật, chữ gốc của chữ nhật thì ban đầu người ta tạo ra hình thể như thế này. Trên giắc cốt văn tạo ra hình thể như vậy là mô phỏng mặt trời. Đến ngày nay chúng ta sử dụng thì là chữ như thế này là chữ nhật. Nhật. Đây là mô phỏng chữ sơ khai là mô phỏng hình mặt trời.
(05:28) Mô phỏng hình mặt trời hay là chữ nguyệt là mô phỏng mặt trăng. Chữ nguyệt mô phỏng mặt trăng thì người ngày người xưa dùng mô phỏng mặt trăng khuyết. Đây là chữ nguyệt đó. Và hiện nay sử dụng là chữ khải thư thì viết như thế này. Đây là chữ nguyệt. Chữ nguyệt này là mô phỏng mặt trăng. Chữ nguyệt này cũng có cách viết khác à dễ dễ hiểu hơn.
(06:10) Nhìn à thời xưa mô phỏng thì có khi là mô phỏng như thế này. Mô phỏng như thế này chỉ là một đường này thôi và một đường cong như này. Đó thì mô phỏng cũng là một dạng mô phỏng chữ nguyệt. Giáp cốt thì à là hình được tạo từ sơ khai cho nên có hình dạng đôi khi nó sẽ khác nhau một chút. Để chúng ta thấy đây là dùng cái nghĩa dùng hình để mô tả, đồng thời dùng âm thanh của mô tả.
(06:42) Ví dụ như là nó dùng âm thanh của các chữ như là thật nó gần với chữ nhật chẳng hạn. Thật gần với nhật hay là khuyết nó gần với là chữ nguyệt hay là chữ xuyên. Xuyên là xuyên qua ấy là đồng âm với là chữ xuyên. Dòng sông thì chảy xuyên qua. Cho nên là những cái gì mà xuyên qua thì người ta lấy chữ xuyên. để là để để mô mi mô mi môu tả thì đây là lấy âm xuyên để nói về chữ sông vừa là mô tả hình dạng của con sông thì con sông là mô tả hình dạng như thế này.
(07:16) Sông thì thì hình dạng như thế này. Đây hình dạng con sông đó. Và đây là chữ khải thư thì là viết thế này xuyên con sông. Sông thì chảy xuyên suốt cho nên là lấy chữ xuyên làm cái làm âm để nói về à về chữ à chữ xuyên sông. Đấy, hôm trước chúng ta cũng nhắc đến a các chữ à về lấy a chữ luân làm thanh phù. thanh phù tức là làm âm làm âm đấy biểu âm để cho chữ thì ở đây chúng ta sẽ cùng trao đổi lại một chút để chúng ta nắm lại được nội dung như chữ luân của chúng ta là được tạo từ chữ tập và chữ sách để mô phỏng
(08:19) những gì thuộc về có thứ tự là chữ luân Từ cái chữ luân này khi mà dùng chữ luân này để làm hình để làm thanh phù à đồng thời kết hợp với một số chữ khác ví dụ như là kết hợp với chữ thủy thì đây là cũng đọc là luân có nghĩa là những vòng tròn sóng gợn sóng dùng với thêm chữ xa xa xe. Thì đây cũng đọc là luân thì nó dùng gọi là bánh xe cũng là hình tròn.
(09:18) Đấy. Đây ví dụ như thế. Và có thể là có một chữ nữa là gì? À ở trong này cũng có thể lấy chữ luận là bộ ngôn. Đây là chữ luận. Đây. Viết lên đây cho đồng học nắm được. Luân. Đây cũng là luân. Đây cũng là luân. Đọc là luân. Đây đọc là luận. Còn một chữ chúng ta hay dùng nữa là chữ luân với bội nhân. Chữ luân này đây cũng đọc là luân.
(10:27) Đó. Chúng ta nhìn ở trên này thì ở đây tất cả cái chữ này đều lấy cái chữ luân này để làm biểu âm. Đồng thời cũng biểu nghĩa ở trong này. Ý nói là tất cả những cái gì mà từ lấy từ chữ luân này đều có thứ tự cả, đều có quy luật của nó, đều phải sắp xếp rất là gọn gàng. Đấy, ví dụ chúng ta luân cái vòng tròn của nước chúng ta thấy nó dàn rất là đều, rất là đẹp.
(11:03) Đấy, chữ luôn bánh xe cũng như vậy. Bánh xe thì đương nhiên là phải tròn. Bánh xe đương nhiên phải tròn. Đấy. Và chữ luân chúng ta thấy kết hợp với đây bên này nữa là đây là chữ thủy. Thủy là nước. Đấy. Cái gì liên quan đến nước mà tròn tròn thì đấy là sóng nước. Cái gì liên quan đến xe mà tròn tròn thì đấy là bánh xe. Thế thì khi cái gì mà liên quan đến ngôn ngữ, đến lời nói mà có thứ tự, đây là quá trình bàn luận nói chuyện.
(11:41) Nói chuyện thì phải có trật tự, nói chuyện thì cũng phải có thứ tự thì mới gọi là luận. Luận với nhau thì đây là luận. hay là luân đã làm người thì phải có thứ tự, phải có bổn phận, phải có trách nhiệm, phải có vị trí của mình thì gọi là luân. Luân trong ngũ luân ấy. Nên chúng ta thấy mỗi một cái chữ khi tạo ra từ nghĩa của chữ này nó đều mang ý nghĩa rất là quan trọng.
(12:17) Nên chữ luân ở đây là biểu âm nó có ý nghĩa rất là hay chúng ta phải nhớ. Hay là hôm trước cũng nói với các đồng học cái chữ thứ hai chúng ta bàn luận đến là chữ tiên. Lấy chữ tiên làm làm thanh phù chẳng hạn. Tiên này là gì? Hai cây đao trồng lên nhau. Hai cái cái mác ấy, cái giáo ấy là trồng lên nhau. Và hai cây giáo này trồng lên nhau nghĩa là gì? Nghĩa nói là liên quan đến tranh chấp, đánh nhau.
(13:05) Mà cái gì mà dùng dao mác, dùng vũ khí mà đánh nhau thì còn lại gì ạ? Còn lại rất ít, còn lại rất nhỏ. đã đánh nhau, đã tương tàn thì không còn gì cả. Cho nên chữ này còn một âm khác gọi là âm tàn. Tàn nên chữ này đọc là tiên cũng có một âm đọc là tàn. Và những chữ mà có dùng cái chữ này làm thanh phủ thì đều có ý nghĩa là nó còn rất là nhỏ bé, nó rất là nhỏ nhặt, nó không đáng kể thì đều là dùng cái chữ này để làm thanh phủ.
(13:40) Những cái chữ như thế này chúng ta gọi là chữ hình thanh. Chữ hình thanh. Thực ra là cái này để phần sau nói với các đồng học nhưng mà hôm nay đến nhắc đến cái phần đầu tiên cũng phải gởi mở gợi mở để cho chúng ta à nắm được một số thông tin. Ví dụ như là từ chữ tiên này nếu mà kết hợp với chữ thủy thủy như thế này thì chữ này gọi là chữ gì? Chữ này gọi là chữ thiển.
(14:15) Thiển tức là cạn. Nước cạn nước nhỏ thì gọi là cạn. Đấy, nếu mà kết hợp với chữ kim, kim ngày xưa thì con người ai cũng quý đây là vàng đúng không ạ? Vàng à đánh nhau à chia ra thì gọi là tiền. Tiền tức là người xưa tạo chữ này thấy chúng ta phải đề phòng tiền đánh nhau thì chẳng còn gì. Đây là tiền đấy. Cho nên tiền bạc nó không phải là thứ tốt đẹp.
(14:51) Nó có thể dùng nhưng mà nó không phải là cái mục tiêu mưu cầu của cuộc sống. Nên người xưa tạo chữ đều có ý nghĩa nó rất là chặt chẽ là như vậy. Đấy chúng ta thấy tiên đây là thiển, đây là tiền. Hay là còn một cái chữ nữa mà chúng ta thường hay dùng đến chữ tiện trong chữ bần tiện. Bần tiện tiện thì từ đây là dùng chữ bối, bộ bối để kết hợp vào đó thì gọi là tiện.
(15:32) Bối chính là cái vỏ sò. Ngày xưa vỏ sò được dùng làm người xưa dùng vỏ sò để làm à để làm cái tiền tệ lưu thông. Vỏ sò là đơn vị rất là nhỏ. Đơn vị rất là nhỏ. Cho nên cái vỏ sò khi mà con người ta mà tranh nhau ấy mà chia ra ấy nhỏ như vậy tranh nhau như vậy tranh nhau cái cái vỏ sò như vậy thì chẳng còn là bao nhiêu cả vẫn là mang ý nghĩa nó là tương đối là nhỏ tiện cho nên tiện ở đây là gì là thuộc về giống như là hà tiện nó giống như là bẩn tiện nghèo nàn đấy thì thường dùng trong ý nghĩa Nên nói đến đây để cho các đồng học chúng ta nhìn thấy rõ là à
(16:23) là những chữ người xưa tạo rất là hay. Hay là có một cái chữ nữa dùng bộ mộc để mà tạo ra thì chữ này là không lại đọc là tiên mà chữ này đọc là sạn. Sạn trong chữ khách sạn đây. Viết lại để trên này đồng học thì sẽ rõ. Âm này, chữ này đọc là tiên, chữ này đọc là thiển. Chúng ta thấy âm nó sẽ gần gần giống nhau.
(17:01) Chữ này đọc là tiền, chữ này đọc là tiện. Chỉ khác về vận thôi. Và chữ này đọc là sạn. sạn trong chữ khách sạn. Tại sao nhỏ? Vì người xưa ấy chữ sạn này có nghĩa là sạn này có nghĩa là một nơi một cái quán quán nhỏ, một cái nơi chú ngụ rất là nhỏ, một cái lều gỗ dựng bên đường để cho người à đi qua nghỉ tạm thì gọi là sạn, khách sạn.
(17:38) Cho nên thực ra khách sạn nếu như dùng ngày xưa ấy nó chỉ là cái quán nhỏ, cái quán trọ nhỏ thôi chứ nó không phải lớn như bây giờ. Bây giờ chúng ta dùng cái chữ khách sạn này cho cái khách sạn rất là to, rất là lớn thì ý nghĩa là vị dùng sai rồi. Cho nên người xưa dùng như khách sạn ấy, nói đến khách sạn là người ta chỉ nghĩ đến những cái lều nhỏ ven đường thôi, lữ quán nhỏ thôi để cho người ta ở.
(18:02) Thì chữ sạn là cái ý nghĩa nó là như thế. Thì chúng ta thấy cái cách là như thế. À đấy là cái cách người xưa à tạo ra. Ở trong cái phần nghĩa của chữ, thầy à Lưu Khắc Hùng còn nhắc đến một điều nữa là gì? Đương nhiên những điều nói trên đây chỉ là luận bàn về những tình huống thông thường. Bởi vì có một lượng chữ sơ khai mang ý nghĩa trừu tượng như là chữ thượng, chữ hạ và có một số lượng chữ mới sinh ra là kết hợp giữa hình với hình như là chữ võ hay chữ vũ và chữ tín.
(18:45) Tiếp tục nói với các đồng học về các chữ này. Chúng ta nói chữ thượng và chữ hạ là nói về dạng hình chỉ sự. Khi chữ sơ khai dinh ra thì thượng là gì? Là mô phỏng. Chứ thượng là mô phỏng ở phía trên. Chúng ta thấy có một vạch ở phía trên này để mô phỏng. Chữ hạ là mô phỏng cái phía dưới. Thì cái phần này đến cái phần chữ à giáp code thì sẽ nói hơn với đồng học, nói sâu hơn.
(19:24) Còn chữ võ chúng ta nói chữ vũ chẳng hạn. Vũ có nghĩa là vũ trong chữ vũ khí là chữ chiến tranh ấy, vũ trang ấy. Thì chữ vũ thì viết như thế nào? Đây là chữ vũ là nói kết hợp. Đây là chữ được tạo ra để mô tả cái sự việc thôi. Còn cái chữ được kết hợp ngoài hình với thanh ở trên chúng ta nói. Còn kết hợp giữa hình với hình nữa.
(19:54) Chữ kết hợp giữa hình với hình thì giống như chữ vũ này. Chữ vũ. Đây là chữ vũ. chữ vũ thì ở trên này nếu mà nhìn chữ à giáp code thì là viết như thế này. Giáp cod viết như thế này. Đây là hình mô phỏng hình cái giáo. Còn ở dưới này là mô phỏng hình cái ngón chân mình. Đây đây hình cái ngón chân đây. Chữ giáp cốt văn ngày xưa người ta vẽ mô phỏng.
(20:43) Đây là nói về chữ vũ. Vì sao lại dùng cái chữ này? Cái chữ chỉ ngón chân này ấy là có nghĩa là chữ chỉ. Đây là ngón chân này chúng ta nhìn thấy vẽ là không được đẹp lắm. Chữ chỉ đây đây học chữ giáp cốt văn chúng ta cũng phải à tập vẽ nhiều để xem người xưa về sau. Cái này giống hình ngón chân không? Đây là dấu chân, ngón chân.
(21:25) Người xưa dùng chữ này để nói đây là chữ chỉ. Đây chính là chữ chỉ. Chỉ. Chỉ có nghĩa là dừng lại. Sao lại là mô phỏng cái ngón chân? Mô phả mô mô mô mô phỏng cái cái ngón cái cái dấu chân đi như thế. Cái ngón chân như thế. Ban đầu cái nghĩa này có nghĩa là đi, dấu chân có nghĩa là đi. Mà đi ấy thì cũng có lúc phải dừng, không ai đi mãi được.
(22:02) Đi có nghĩa là dừng, dừng lại thì sẽ để lại một cái dấu chân như thế. thì người ta dùng cái chữ này để mà nói về chữ chỉ. Chỉ là dừng lại. Cho nên ở trên là dùng vũ khí, dùng chữ qua, trên là qua là cây giáo. Con người ấy phải mang vác binh khí, tức là mang cái qua đấy, cái giáo đấy, mang vác binh khí ra chiến trường để bảo vệ lãnh thổ. Đây là vũ khí.
(22:36) Đây là vũ trang để làm gì? Bảo vệ lãnh thổ. Mục đích sau này ấy, mục đích cuối cùng, mục đích là bảo vệ lãnh thổ. Nhưng mà sau này còn có cách giải thích khác nữa là gì? Vũ ấy là không phải là dùng sức mạnh để vũ lực, để đánh nhau mà vũ ấy cái quan trọng nhất là phải dừng lại chiến tranh. Cái ý nghĩa quan trọng của nó là dừng lại chiến tranh.
(23:04) Cho nên ở đây chúng ta thấy ý nghĩa nó rất là hay. Người xưa tạo chữ ấy thì ý nghĩa ở trong đó đúng là vô vàn thật. Cho nên chúng ta thấy ở đây đang nói đến nghĩa của chữ thì chúng ta thấy chữ được tạo nên từ hình, từ âm, từ nghĩa nó kết hợp với nhau à rất là tuyệt vời. Cho nên đây là à chúng ta học để chúng ta biết được là à khi chúng ta dùng chữ thì ý nghĩa như thế nào.
(23:37) Sau này vào từng chữ thì chúng ta sẽ học kỹ hơn. Tiếp theo, trước khi a chúng ta học tiếp cái phần về đặc tính của chữ Hán thì hôm qua chúng ta cũng đã trao đổi với các đồng học rất nhiều về kinh dịch. Chúng ta phải nhớ kinh dịch là được tạo ra từ tám quẻ. ban đầu là tám quẻ ban đầu đó bản chất không phải cái gì mà mà kỳ quái cả mà bản chất nó là tạo ra tạo chữ ban đầu của người xưa để mô phỏng hình mô phỏng cái hiện tượng tự nhiên thôi.
(24:27) Ví dụ sấm chớp, gió, mưa, à trời, đất vân vân. Để chúng ta thấy rất là đơn giản. Rồi hôm nay chúng ta à lại tiếp tục sang cái phần đặc tính của chữ Hán. Đặc tính của chữ Hán thì chữ Hán có ba cái đặc tính. Thứ nhất là tính hoàn chỉnh, thứ hai là tính thống giác. Thứ ba là tính ổn định. Đây là ba cái đặc tính lớn của chữ Hán. Chúng ta đọc cái phần thầy Lưu Khắc Hùng thầy soạn.
(25:09) Về tính hoàn chỉnh của chữ Hán, quan sát thuần túy về mặt hình thể thì mỗi một chữ Hán đều có toàn hình, tức là hình thể hoàn chỉnh. Chúng ta thử phân tích chữ Hán một chút thì thấy không ngoài hai loại là độc thể và hợp thể. Đối với chữ độc thể như chữ văn, tính toàn hình của nó thì không cần phải nói tới.
(25:37) Đối với chữ hợp thể, ví dụ như chữ tự, phần lớn là từ hai chữ sơ văn hợp thành. Từ hợp thành này, từ chữ hợp thành từ ba chữ sơ văn trở lên thì vô cùng ít. Hơn nữa, phương thức hợp thành một chữ sơ văn thì hoặc là sắp xếp bên trái như là chữ lý, chữ luận hoặc sắp xếp ở bên dưới như là chữ tiễn, chữ phồn hoặc là sắp xếp bên ngoài như chữ cố, chữ quốc.
(26:08) Tất cả đều lấy ô vuông hoàn chỉnh để thể hiện đại biểu cho một âm, một nghĩa gốc cũng đại biểu đầy đủ tính hoàn chỉnh. Đây chúng ta nói về à tính hoàn chỉnh của chữ Hán. Nó rất là rõ ràng rồi. Chúng ta nhìn chữ Hán thành một khối ô vuông. Tất cả chữ đều thành một khối ô vuông đặt rất hoàn chỉnh. Và các chữ chúng ta như nhìn thấy đa phần là kết hợp từ hai chữ sơ văn.
(26:36) Như ở đây thầy có nói với chúng ta chữ văn và chữ tự chẳng hạn. Chữ văn ví dụ như chữ văn là chữ viết như thế này. Đây là cũng dạng là chữ độc thể. Hay là chữ tự. Chữ tự là như thế này. Chữ tự biết mất phấn bị mờ. Chữ tự đây. Trên là miên, dưới là tử, đây là tự gọi là văn tự. Thì chữ văn là chữ văn là chữ độc thể, còn chữ tự là chữ hợp thể. Hai chữ lại với nhau.
(27:20) Miên là máy nhà, tự là con. Đấy, tử là con. Thì đây là kết hợp hai chữ này thành chữ tự. thì chúng ta nhìn thấy rất là rõ ràng rồi. Tất cả các chữ đều nằm trong khối ô vuông. Dù kết hợp theo kiểu gì thì khối ô vuông thì đây chính là à cái tính hoàn chỉnh của chữ Hán. Thứ hai là tính thống giác của chữ Hán. Thống giác là một danh từ của tâm lý học hoặc là dịch thành loại hóa, tức là chỉ cho quá trình lợi dụng các quan niệm cũ để tạo thành quan niệm mới.
(28:00) Toàn bộ văn tự của chữ Hán được cấu thành từ khoảng 500 chữ sơ văn. Mỗi một chữ sơ văn đều là một đơn vị quan niệm, cũng gọi là chính là từ. Chúng ta gọi đó là từ đơn âm nguyên thủy. Những chữ được tạo thành từ hợp thể các chữ sơ văn cũng là như vậy. Chúng ta gọi là từ đơn âm hậu khởi. Hoặc nhiều hơn hai chữ cấu thành biểu thị một quan niệm nhưng vẫn tính là một từ thì chúng ta gọi là từ phức âm.
(28:33) Khi chúng ta học tập phức âm có thể dùng từ đơn âm để làm cơ sở, đồng thời có thể biết ý nghĩa của mỗi chữ của từ phức âm. Khi chúng ta học tập từ đơn âm hậu khởi, có thể lấy từ đơn âm nguyên thủy để làm cơ sở, đồng thời biết được ý nghĩa của mỗi một chữ sơ văn trong chữ được cấu thành. Đây là đoạn đầu thầy nói.
(29:02) Tiếp theo thầy nói bởi vì chữ Hán có đặc tính thống giác này cho nên khi học tập thì vô cùng thuận tiện. Ví dụ chữ luận có ý nghĩa là lời nói, có trật tự, có tầng bậc. Theo đó có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ cấu thành nên là chữ ngôn và chữ luân. Ngôn biểu là đại biểu cho ngôn ngữ, tức là lời nói có thể liên tưởng đến các chữ dùng bộ ngôn như là chữ đàm, chữ vị, chữ độc, chữ tụng đều có liên quan đến ngôn ngữ là lời nói.
(29:39) Luân là đại biểu cho thanh âm luân cũng bao gồm ý nghĩa là trật tự tầng bậc, có thể liên tưởng đến các chữ sử dụng thanh âm luân như là chữ luận, chữ luân bánh xe hay là chữ luân trong chữ trầm luân. Chữ luân trong chữ ngũ luân tức là luân của luân lý đạo đức. Âm đọc thì nhất định phải gần với luân. Hơn nữa, phần nhiều ý nghĩa đều mang ý nghĩa là có trật tự, có tầng bậc.
(30:08) lại lấy chữ luận làm cơ sở có thể suy tưởng đến ý nghĩa của rất nhiều từ phức tức là từ ghép đấy như là luận giải, luận học, luận cứ, luận thuật cho đến những chữ như là ngôn luận, nghĩa luận, lý luận. Đây gọi là cái tính thống giác của chữ Hán. Tính thống giác này trên thế giới không có bất kỳ loại chữ viết nào có thể bắt kịp với chữ Hán.
(30:35) À chúng ta thấy chữ Hán hay không? Có rất nhiều cái ưu điểm của chữ Hán. Cho nên là tại sao mà chúng ta trong suốt mấy nghìn năm chúng ta vẫn lấy chữ Hán làm cái chữ trong cái văn tự chính của chúng ta để chúng ta học tập. Nó không phải là không có cơ sở bởi vì nó có sự kế thừa và ngôn ngữ của chúng ta sử dụng.
(31:02) Ví dụ như lúc nãy đến giờ bản thân Việt khi nói chuyện với các đồng học, chia sẻ các đồng học, ở trong những câu chuyện, những lời nói này đã bao gồm rất nhiều từ ngữ mang tính thống giác này. Thì chúng ta thấy đây là sự kế thừa, đây là sự kế thừa của hàng nghìn năm. Như vậy nếu giả sử như bây giờ chúng ta mất đi cái chữ No, mất đi chữ Hán, mất đi cái chữ Nôm này thì sau này ngôn ngữ của chúng ta sẽ kế thừa như thế nào? Sẽ đứt mạch kế thừa và có thể 100 năm nữa thì tiếng Việt của chúng ta đã hoàn toàn khác so với bây giờ.
(31:40) Những ngôn ngữ chúng ta sử dụng liên quan đến thánh hiền có khi dần dần sẽ biến mất. Ví dụ như là à nói chữ luân lý thì mọi người không nói luân lý nữa mà mọi người sẽ nói sang một cái từ khác để mà mô tả. Có thể là mượn cái từ tiếng Anh, có thể mượn từ phương Tây vân vân cũng có thể biến đổi ra một hình dạng khác.
(32:06) Có rất nhiều cái cách để biến đổi dần dần theo thời gian. Cái này khiến cho nếu mà không có được, không giữ được cái chữ mà chúng ta học, chữ nôm thì e rằng sau này thời gian chúng ta sẽ không có cái sự cái cái sự kế thừa này. Cho nên là chúng ta thấy rất hay. Tiếp theo chúng ta đọc phần tính ổn định của chữ Hán. Chữ viết phiên âm tức là bính âm là dùng chữ cái để ghi âm.
(32:37) Chữ Hán lại dùng tự hình, tức là hình của chữ để ghi nghĩa. Trong đó phần lớn ngoài ghi nghĩa ra thì cũng kiêm luôn phần ghi âm. Hai loại phương thức này có ưu nhược như thế nào? Tiên sinh Trương Thái Viêm đã từng nói, nếu giữ âm mà không giữ hình, tức là chữ viết phiên âm ấy, địa lý sẽ cách xa 10 độ.
(33:05) Thời gian sau 10 đời khó mà biết được nghĩa của nó. Nếu lấy hình lại giữ nghĩa, tức là tự hình ghi nghĩa, thì tuy địa lý cách biệt xa xôi, thời gian xưa nay khác biệt thì vẫn có thể đọc hiểu văn tự. Chữ viết phiên âm sẽ thay đổi theo thời gian, không gian nên khó phân biệt được nghĩa của nó.
(33:33) mà lấy tự hình ghi nghĩa thì bất luận là thời gian, không gian thay đổi thế nào thì cũng có thể hiểu được ý nghĩa biểu đạt của nó. Cái chỗ này chúng ta nhìn thấy rất là hay. À ông Trương Thái Viêm nói là thời gian địa lý cách xa 10 độ, thời gian cách sau 10 đời. Đời tức là thế, chữ thế. Sau 10 thế, sau 10 đời ấy, chứ thế này ở trong thuyết văn giải tự giải thích cho chúng ta thế có nghĩa là gì? Tam thập niên vi nhất thế 30 năm thì được gọi là một đời.
(34:20) Tức là sau 10 đời giả sự sau 300 năm thì khó mà biết được nghĩa của nó. Chúng ta không cần nói đến vài trăm năm. Bây giờ thử hỏi các đầu học hãy nhìn thấy cái tên của mình. Chúng ta có hiểu ý nghĩa tên của mình là gì không? Bây giờ chúng ta viết ví dụ trên tên là Thái thì bây giờ chúng ta dùng chữ phiên âm, dùng chữ bính âm.
(34:52) Đấy, bính âm của chúng ta bính âm tiếng Việt thì gọi là đánh vần. Đấy, bính âm có nghĩa đánh vần. Thì viết lên chữ ch thái là viết như thế này. Thờ ai thái sắc thái bây giờ chỉ đọc được chữ này thôi. Nghĩa của nó là gì? Không ai biết. Thế thì ngay ở trong đọc là thái nhưng mà cái chữ để mà để mà tạo nên chữ Thái này có rất nhiều chữ cùng đồng âm là Thái.
(35:20) Vậy là chữ nào là cái nghĩa mà lúc mà cha mẹ sinh ra đặt cho mình? Ví dụ như chữ thái trong chữ thái lễ húc đúng không? Cũng là một dạng chữ thái thì chúng ta nhìn thấy là có rất nhiều cái chữ đọc là Thái. Thế thì chữ Thái nào? Không ai biết được. Đến bây giờ chúng ta đã không biết được rồi. Thì đây chính là cái à cái thiệt thòi của chúng ta đúng không ạ? Thái thái trong chữ thái thượng cảm ứng thiên là khác với chữ thái của chữ thái cũng có nghĩa là một loại thái là thái là mang ý là rau cũng một loại thái là
(36:00) mang ý nghĩa trong chữ thái lễ húc đấy là nói về ví dụ như là à cỏ dại hay là cỏ hoang vân vân có rất nhiều ý nghĩa ở trong đấy hay là nước thá nước lớn người xưa là là lấy như thế bây giờ lúc mà đặt tên cho con thì cha mẹ đặt tên là như vậy. Ý nghĩa là gì? Ai biết? Thậm chí cha mẹ đặt tên bây giờ cũng chỉ theo thuận theo thời thế.
(36:25) Người ta gọi sao mình đặt vậy? Cho nên là như ông Trương Thái Phiêm nói ở đây là sau thời gian 10 đời chúng ta chưa cần đến 10 đời, chỉ sau mấy đời thôi chúng ta đánh mất đi chữ Nho không còn thầy đồ nữa. Không còn ai giải thích chúng ta biết được là cái chữ chúng ta như thế nào. Ngày xưa mỗi khi đặt tên cho con thì cha mẹ đều đến tham vấn thầy đồ.
(36:55) nên đặt tên cho con như thế nào, lấy chữ nào để đặt. Thầy đồ tuy ít người đi học nhưng mà trong làng kiểu gì cũng có mấy thầy đồ. Thầy đồ sẽ đưa ra chúng ta một số chữ. Cái chữ này có nghĩa là thế này. Ví dụ đặt tên Thái này có nghĩa là Thái Bình. Đặt tên là Thái này có nghĩa là lớn lao. Đặt tên là Thái này thì có nghĩa là khác.
(37:20) Thì cha mẹ khi đó mới dùng cái tên cái chữ đó. để đặt cho con chúng ta thấy đến bây giờ thì không biết nữa rồi. À cho nên là thời gian địa lý cách biệt xa xôi đến bây giờ thì chúng ta đặt cái tên của con cái chúng ta bây giờ chúng ta không biết là bao nhiêu nữa. Cho nên ở đây chúng ta thấy tên tuổi chúng ta vẫn còn đấy, đọc vẫn còn đấy nhưng ý nghĩa không còn.
(37:47) Cho nên các đồng học chúng ta thấy không? Chúng ta học lại chữ Hán, chúng ta học lại chữ Nôm. Đây không chỉ đơn giản là không chỉ đơn thuần là việc học lại chữ để cho vui, để cho thêm phần thi vị mà khi chúng ta đặt nó ở trong cái tính thống giác này, đặt ở nó ở trong cái địa vị sự phát triển của xã hội thì chúng ta thấy đây còn là một cái sứ mệnh của chúng ta để mà à truyền thừa văn hóa truyền thống.
(38:18) Cho nên chúng ta thấy cực kỳ cực kỳ đáng thương cho chúng ta ngày nay. Hy vọng là chúng ta phát tâm học tập thật tốt thì chúng ta sẽ khôi phục lại được cái chữ viết miễn là còn ngọn lửa nhen nhúm thì ngọn lửa đấy có thể bùng phát trở lại được. Chỉ sợ là ngọn lửa đấy sẽ tắt ngúm bãi mãi thì nó mới đứt đoạn thôi.
(38:43) Cho nên là một người học thì à sẽ còn ngọn lửa vẫn còn le lói. Tiếp theo cái phần tính ổn định của chữ Hán. Chúng ta đọc tiếp. Cả nước Ấn Độ có hàng trăm phương ngữ, trong đó lấy tiếng Phạn làm chính. Nhưng vậy nhưng nương vào phương ngữ của các nơi nên đã tạo hơn 30 hệ thống chữ viết. Bởi vì thiếu một hệ thống chữ viết chung để duy trì tình cảm dân tộc, thế nên không thể đoàn kết chống ngoại sâm.
(39:14) Đây là nhược điểm của chữ viết phiên âm do khoảng cách không gian mà sinh ra. Hơn nữa, chữ viết phiên âm ngoài việc làm phù hiệu cho ngôn ngữ ra thì bản thân nó không có nghĩa gì khác. Ngôn ngữ tuy là à ngôn ngữ là tùy theo thời gian mà dần dần thay đổi, do đó chữ viết phiên âm cũng theo đó mà thay đổi. Chúng ta lấy tiếng Anh làm ví dụ.
(39:40) Có rất nhiều văn tự trong các tác phẩm của Shakespeare ở thế kỷ 17 đã không còn với tiếng Anh ngày nay nữa. Hơn nữa, cho dù văn tự trong tiếng Anh vẫn đang thay đổi theo ngôn ngữ Anh nhưng không có cách gì đạt được mức nhìn chữ mà đọc âm. Cùng một chữ A. Nhưng mà trong các từ như father, own, later, as âm đọc của mỗi chữ hoàn toàn không giống nhau.
(40:07) Chúng ta thấy đây là tiếng Anh cách đọc cũng là chữ A nằm trong các chữ nhưng không giống nhau. À tiếng Việt thì hiện tại vẫn còn hơi có một chút giống giống. Văn tự Nhật Bản có một phần gọi là giả danh, tức là Cann. cũng là chữ ghi âm. Nhưng chữ giả danh này chỉ trải qua đại chiến thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai thôi mà đã phát sinh thay đổi rất lớn.
(40:34) Loại hiện tượng này là nhược điểm của chữ phiên âm do thời gian mà thay đổi. Lại nhìn vào Trung Quốc, mặc dù về phương diện ngôn ngữ có sự khác nhau về tiếng quan thoại và tiếng nói địa phương nhưng khi viết ra thì không phân biệt đông tây, nam bắc. Nếu cổ nhân khi mới tạo ra chữ viết đã dùng ngay chữ phiên âm thì không tránh khỏi mỗi địa phương dùng một loại chữ theo âm của địa phương mình.
(41:02) không giống như châu Âu vì tiếng nói và chữ viết khác nhau nên phân chia thành nhiều quốc gia khác nhau. Chính vì vậy, Trung Quốc sử dụng chữ biểu ý cho nên suốt mấy nghìn năm văn hóa một mạch tương truyền, rất nhiều phương ngữ cũng là nhờ chữ viết mà thống nhất lại, hình thành nên một dân tộc lớn có dân số hơn 1,3 tỷ người.
(41:25) Sức mạnh bền vững của văn hóa, sức mạnh gắn kết dân tộc này chính là thành quả của tính ổn định đặc hữu của chữ Hán. Đây là chúng ta nói về tính ổn định của chữ Hán là thầy là người Trung Quốc thầy cũng phát hiện ra nhờ cái tính ổn định này mà người Trung Quốc mới có thể lớn mạnh như thế. Chúng ta lại quay sang Việt Nam khi chữ Hán được du nhập vào chúng ta, chúng ta dùng chữ Hán biến nó thành ngữ căn của chúng ta, thống nhất lại văn tự của chúng ta.
(42:02) Chúng ta biết là ở Việt Nam chúng ta rất nhiều tình thành khác nhau, đọc khác nhau nhưng một khi viết ra ấy thì đều cùng dùng cùng thống nhất một loại chữ viết này. Đồng thời chúng ta ngoài chữ này chúng ta còn có thêm là chữ để biểu âm của chúng ta nữa bổ sung vào cái danh mục của chữ Hán là đó là chữ Nôm. Thì chữ nôm chính là cái thống nhất.
(42:24) Tính ổn định của nó cũng tương tự như vậy, cũng thống nhất ở các vùng miền khác nhau. Ví dụ như là chúng ta à nói tiếng Hà Nội miền Bắc. Cái này là cái gì? chữ này. Còn ở miền Nam ở miền Trung thì hỏi là ví dụ cái ni là cái chi, ví dụ cái gì và cái chi đúng không? Thì chữ gì và chữ chi về cơ bản đều là viết là chữ chi.
(43:06) Ví dụ như thế đây đều là viết là này. Chữ này và chữ ni đều là viết giống nhau cả. Đây là chữ nôm của chúng ta hoàn toàn viết giống nhau. Đây là thống nhất của chữ. Cho nên là hoàn toàn chúng ta nếu mà thực sự là chỉ nếu mà chúng ta khôi phục lại được chữ nôm thì chúng ta có thể giữ toàn vẹn được cái ngữ này, cái ngôn ngữ này.
(43:32) Và chắc chắn là trong chữ nôm thì chúng ta sẽ học được chữ Hán. Đây là tính cái rất hay. Cho nên nếu mà bạn nào theo con đường học tập hán nôm thì chúng ta phải nhớ cái cái sứ mệnh này nó rất là lớn lao. Lúc nãy có trao đổi đồng học về à đặc tính của chữ Hán. Có nói trước đây là nói ba thì chúng ta thêm một cái cái thứ tư nữa là cái rất quan trọng đó là tính nghệ thuật của chữ Hán.
(44:01) Tính nghệ thuật của chữ Hán. Nghệ thuật ở đây là bao gồm nghệ thuật không gian, nghệ thuật thời gian và một loại nghệ thuật tổng hợp tức là nghệ thuật sống. Về mặt hình thể, chữ Hán là chỗ dựa vào hình tượng, sau đó kết hợp hình thanh rồi theo hướng trực hệ của hội họa mà phát triển. Cho nên mỗi một chữ đều như một bức tranh.
(44:27) Ý vị của nó giàu tính mỹ thuật, đặc biệt là cổ văn và triện thư, có thể dùng dạng hội họa này càng giàu tính nghệ thuật. Do đó, chữ Hán không những có thể đưa vào tranh và đề chữ vào trăng tranh cũng có thể tăng thêm mỹ quan mà bản thân nó còn cũng có thể được chế thành bức tranh riêng hoặc câu đối làm thành một tác phẩm nghệ thuật độc lập, trở thành một loại hình nghệ thuật không gian.
(44:54) Về mặt thanh âm, chữ Hán có đặc điểm là mỗi chữ là một âm, lại có bằng trắc khác nhau. Cho nên khi sắp xếp đối ngẫu với nhau thì một chữ lại đối một chữ một bằng một trắc, có thể đối được vô cùng chỉnh tề. như là biền văn của người xưa, hầu như là từng câu đối xứng hai chữ, mỗi hai chữ lại là một tiết tấu bằng chắc dùng lần lượt. Chúng ta gọi là vần móng ngựa.
(45:22) Đó là biểu hiện đặc tính của chữ viết này. Đến như à cận thể thi tức là thơ đường luật là dùng ngũ ngôn hay thất ngôn thì bằng chắc đối ngẫu gieo vần đều có quy cách mang tính nghiêm ngặt. Nên nếu không dựa vào đặc tính này của chữ Hán thì không làm được. Cho dù là văn xuôi thông thường, tác giả cũng thường vô thức sử dụng một số biển ngẫu, một số biền ngữ.
(45:48) Những điều này cho thấy chữ Hán có đầy đủ tiết tấu nhịp phách của âm nhạc, có thể cho rằng đây là một loại nghệ thuật về thời gian. Về mặt ý nghĩa, chữ Hán ẩn chứa một dạng triết học sâu sắc từ những câu nói như nhân ngôn vi tín, tức là làm người đã nói thì phải giữ chữ tín. Qua chỉ qua vi võ, tức là dừng binh đao thì mới gọi là võ đạo chân chính.
(46:17) Một số chữ này khi kết hợp ở dạng hình thanh với nhau, chúng ta còn có thể cảm nhận được phong thái của một đất nước chú trọng nói đi đôi với làm và rất yêu chuộng hòa bình. Trong nhiều chữ kết hợp dạng dạng hình thanh cũng có gợi mở sâu sắc tương tự. Chẳng hạn như chữ nộ, nghĩa là à tòng tâm nô thanh từ à chữ tâm và dùng chữ nô làm âm thanh.
(46:45) có bộ tâm ở phía dưới, ở trên là chữ nô là nô lệ. Một người đánh mất đi lý trí thì mới nổi giận. Lúc này họ thực sự đã biến thành nô lệ của cảm xúc trong tâm. Không có gì lạ là nhà văn Mỹ nổi tiếng là ông Korov đã thừa nhận mỗi khi tôi học được một chữ Hán thì tôi cảm thấy mình đang hiểu rõ thêm một nền triết học vĩ đại.
(47:09) Quả thực mỗi một chữ Hán hầu như đều đại biểu cho trí tuệ của một dân tộc cổ xưa hiển thị ra một loại nghệ thuật vĩ đại đó là nghệ thuật nhân sinh. Đây là đọc hết cho các đồng học hiểu rõ về cái đặc điểm này. Thứ nhất là chúng ta nói về tính nghệ thuật của chữ Hán thì chúng ta biết rồi. Các thanh chúng ta nhìn thấy à nhìn thấy tất cả những cái phần ví dụ chúng ta đi học chữ thư pháp, chúng ta nhìn thư pháp viết rất đẹp, mỗi bức tranh đều có ở trong đấy.
(47:44) hay thậm chí những cái bức tranh phong thủy hữu tình lại đề thêm chữ Hán ở trên đấy thì bức tranh này trở nên càng đẹp hơn. Nếu mà bức tranh mà không có chữ Hán ở trên đấy cảm giác nó thiếu một cái gì đó. Cho nên thông thường người xưa khi mà vẽ tranh ấy thì người ta sẽ đề thêm một câu thơ ở trên đấy. Một câu thơ bằng chữ Hán và câu bức tranh nhất định là phải có một câu thơ ở trên đấy, một cái chữ ở trên đấy thì bức tranh đấy nó trở nên hoàn thiện.
(48:10) Hay là chúng ta đọc ví dụ chúng ta đọc bài à à bài thơ về chữ Hán chẳng hạn. Nam quốc Sơn Hà Nam Đế cư tuyệt nhiên định phận tại thiên thư. Chúng ta đọc lên chúng ta thấy bằng chắc bằng chắc bằng chắc nó đối rất là đẹp đúng không ạ? Thì chúng ta là ở trong đấy nó còn một cái hùng hồn ở trong đấy như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.
(48:38) Đấy, tất cả những cái ở trong cái câu thơ mà chúng ta làm bằng chữ Hán ngày xưa ấy, ở trong đó, đặc biệt là khi chuyển sang ngữ căn tiếng Việt ấy, tiếng Việt lại vô cùng phong phú, âm thanh của tiếng Việt lại rất là tròn, rất là đẹp. Cho nên là đọc lên nó rất là hùng hồn, đọc lên nó rất là hay. Thể thơ khi mà sang chúng ta chúng ta phát triển rất tuyệt vời.
(49:00) Chúng ta thấy người xưa chỉ dùng bài thơ mà có thể bình định thiên hạ thì phải nói là âm thanh nó mang tính nghệ thuật rất là mạnh. rất là giàu từ âm thanh cho đến chữ viết. Nên chúng ta thấy hầu như là thời xưa những cái tác phẩm văn chương đều là xuất phát từ chữ Hán, từ thể văn ngôn này. Như chúng ta thấy tác phẩm nổi tiếng của Hồ Chí Minh là Ngục Trung Nhật Ký là tác phẩm hoàn toàn bằng chữ Hán mà ngài viết rất là hay.
(49:31) ở trong đó đọc toát lên cái vẻ khi mà đọc lên ấy nhất là người mà viết chữ thì thấy cái sự cái hùng hồn ở trong đấy và thấy được cả cái linh hồn ở trong đấy của cả một người vì nước vì dân, một người lúc nào khao khát về cái tinh thần hòa bình cho dân tộc. Cho nên bây giờ chúng ta từ nhỏ không được học chữ cho nên lớn lên dần dần chúng ta mất đi cái sự kế thừa này, mất đi cái linh hồn này.
(50:01) Dần dần chúng ta à hiện tại chúng ta nhìn thấy rất ít người xuất hiện, rất ít xuất hiện những cái người mà à có tầm vĩ đại như là Hồ Chí Minh hay là những cái nhà thơ vĩ đại thời xưa của chúng ta. Nên chúng ta thấy đây là cái tính nghệ thuật của chữ Hán rất là hay. Trong chữ Hán nó còn có ý nghĩa, nó còn có rất nhiều cái à cái cái ý nghĩa nó nó vô vàn ở trong đấy.
(50:29) Nên chúng ta phải quay lại chúng ta thấy khi mà người viết thư pháp thì chúng ta biết thư pháp cũng phải có sự kế thừa. Người xưa khi đã tạo ra thư pháp được nhiều người công nhận ấy thì cái thư pháp này có linh hồn. Cho nên những người đời sau khi học thư pháp ấy thì nguyên tắc học thư pháp của người xưa là gì? Thầy Thái Lễ Húc vẫn có một số bài giảng thầy nói rất là hay.
(50:54) Học thư pháp ấy người xưa ấy là phải đồ chí chữ thư pháp đấy hàng vạn lần, hàng nghìn lần. Có nghĩa là học theo cái lối của người xưa, học đến khi nào mà nhuần nhuyễn. từ trong cái sự nhuần nhuyễn đấy mới phát triển lên cái tính nghệ thuật của riêng mình, cái hồn của riêng mình ở trong đấy.
(51:13) Còn nếu mà chưa bắt trước được cái linh hồn của chữ Hán đấy, của cái tính nghệ thuật đấy thì không thể nào tạo nên một thư pháp hay được. Cho nên chúng ta thấy ngày nay viết thư pháp ngoằn ngoèo ngoằn ngoèo, chúng ta nghĩ đó rất là hay, nghĩ đó rất là đẹp. Nhưng chẳng qua là gì? Chẳng qua là những cái thư pháp đó là múa dìu qua mắt thợ.
(51:32) Chẳng qua là những cái thư pháp đấy là những thư pháp gọi là để mà lừa những người không biết mà thôi. Chứ thư pháp thật sự là phải có linh hồn ở trong đấy. Phải có cả chữ cả nghĩa, phải có cái đức tu của người tu ở trong đấy thì mới gọi là cái thư pháp. Cho nên là thư pháp là ở trong đấy là cái chữ viết là mang tính nghệ thuật, mang cả tâm hồn ở trong đấy.
(51:55) Vẽ tranh cũng thế thôi. Người xưa vẽ tranh tranh cổ cũng là như vậy, cũng là học tập từng ly từng tí một như vậy. Thế mới truyền thừa được về phía sau. Cho nên chúng ta quay lại chúng ta học tập về chữ. Chữ viết của chúng ta thì à chữ viết thì phải mang tính truyền thừa. Chúng ta học văn hóa truyền thống, chúng ta học Phật pháp, học kinh điển thì chúng ta phải nhớ cái nền tảng quan trọng nhất đó chính là văn tự.
(52:31) Bởi vì người xưa đối với văn hóa truyền thống thì chúng ta không nói rồi là được tạo ra dựa trên sự lựa chọn đắn đo rất là kỹ càng để viết lên một bộ kinh điển. Ví dụ như là viết ra một bộ hiếu kinh của Khổng Phu Tử. Khi nói ra Hiếu Kinh, khi viết ra thì phải lựa chọn chữ như thế nào, trong chữ đó thì nghĩa ra sao thì phải nói rất là kỹ.
(53:01) hay nói đến như kinh Phật khi xưa mà phiên dịch từ tiếng Phạn sang chữ Hán thì người xưa phải chọn những cái chữ nào? Thứ nhất là phải dễ cho người tiếp nhận. Thứ hai là trong cái chữ đó nó phải mang cái tính truyền thừa. Chữ đó phải bao hàm được ý nghĩa rất là sâu sắc. Cho nên không tùy tiện để chọn chữ được, không tùy tiện dịch được.
(53:29) Cho nên khi mà dịch một bộ kinh là chuyển từ chuyển từ tiếng Phạn sang chữ Hán là người xưa đã cân nhắc đắn đo từng ly từng tí một. Cho nên đã dịch kinh rồi ấy là đã được triều đình công nhận rồi ấ đã đưa vào Đại Tạng Kinh ấy thì bộ kinh đấy là cái bộ kinh là sẽ cứ truyền thừa sử dụng như thế không có biến đổi gì khác. Cho nên chính vì thế khi kể cả khi hội tập thì nguyên tắc hội tập kinh điển người xưa đều là gì? Đều là lấy nguyên những chữ mà người xưa đã tạo ra.
(54:03) Chỉ có hội tập đoạn này vào đây thôi. Hội tập vào thôi, không thêm không bớt, không sửa chữ. Đấy là nguyên tắc của của hội tập. Cho nên chúng ta thấy bản kinh Vô Lượng Thọ hiện nay lưu truyền của chúng ta của ngài Cư Thy Hạ Liên Tư Hạ Liên Cư đấy là ngài hội tập đảm bảo nguyên tắc này không có thêm bớt không thay đổi gì cả cho nên bản hội tập này là lấy được tất cả kinh điển mà đã được thừa nhận cho nên đây là cũng là mang tính thống giác truyền thừa ổn định chúng ta thấy rất là tuyệt vời.
(54:34) Nên chúng ta nói, chúng ta phải lưu ý với một chữ khi chúng ta đọc kinh điển, học kinh điển thì chúng ta phải từng chữ một mà chúng ta làm. Hiện nay để thuận tiện cho rất nhiều đồng học à lúc đọc tụng kinh điển thì chúng con có phiên âm ở bên cạnh. À chúng ta thường hay phiên âm ở bên cạnh để đọc theo cái chữ Hán đây là như thế nào.
(54:57) Nhưng mà người xưa không làm như vậy mà người xưa để cho chính chúng ta khi đọc đến kinh điển này, chúng ta phải tra từng chữ, tìm âm của nó đọc như thế này có đúng hay không, nghĩa của nó như này có đúng hay không. Chúng ta đọc xong chúng ta phải trình bày với thầy, thầy sẽ chỉnh lý lại cho chúng ta. Cứ như thế chúng ta chủ động học thì thầy chỉ chỉnh thêm một chút thôi, chúng ta sẽ nhớ được rất lâu.
(55:21) Đây chính là lý do tại sao mà người xưa học rất hay. Kinh điển chúng ta, người Việt Nam chúng ta học qua bao nhiêu năm học kinh điển không cần phải dịch. Bởi vì chính có chính là có chữ sự truyền thừa này. Chúng ta đọc kinh điển, chúng ta biết cách tra từ, chúng ta biết cách tra ý nghĩa, chúng ta hiểu được trong cái khi mà đọc lên ý nghĩa đã bao trùm trong đó rồi.
(55:45) Muốn dịch ra không thể nào dịch ra được trọn vẹn dịch ra cho thành thơ thành hình không dịch được. Cho nên ngày xưa bản thân kh khi mà cầm cái bộ thánh học căn chi căn mà hòa thượng nói hòa thượng tịnh không ngài giới thiệu nhất định phải học à cái thánh học căn chi căn. Khi mình bắt đầu dịch rồi à dịch thì làm sao mà vừa đảm bảo ý này, vừa đảm bảo được thơ này, vừa đảm bảo được bằng chắc này, thực sự là vò đầu bứt tai, dịch kiểu gì cũng không thể hoàn chỉnh được.
(56:13) Cho nên đến sau này nghe hòa thượng giảng đến cái việc học chữ này thì mình mới thấy à đúng là như vậy. Chẳng qua dịch là gì? Để giới thiệu cho người ta biết một cái nghĩa nào đó ở trong kinh điển. Dựa vào cái sự yêu thích đó, người ta bắt đầu mới quan tâm đến văn hóa truyền thống. quan tâm văn hóa truyền thống rồi thì phải đi tìm hiểu sâu hơn về văn hóa truyền thống.
(56:32) Tìm hiểu sâu hơn về văn hóa truyền thống thì nhất định phải học chữ Hán, phải học văn ngôn văn thì chúng ta đọc lên chúng ta bắt đầu mới có ý nghĩa ở trong đó. Cho nên dụ ví dụ như chúng ta đọc cái chữ bộ kinh điển căn bản nhất chúng ta học trong nền tảng là gì? Là cái bộ đệ tử quy.
(56:55) Chúng ta đọc câu kinh văn đầu tiên đệ tử quy là gì? đệ tử quy thánh nhân huấn. Đấy chúng ta đ bắt đầu chúng ta phải tìm hiểu chữ đệ có nghĩa là gì, chư tử có nghĩa là gì, chữ quy có nghĩa là gì, chữ thánh có nghĩa là gì, chữ nhân có nghĩa là gì, chữ huấn có nghĩa là gì. Xong bắt đầu ghép lại đệ tử lại có nghĩa là gì? Ở trong câu này đệ tử có nghĩa là gì nữa? Đấy, chữ quy này có nghĩa là gì? Bao gồm chữ nào? Rồi thánh nhân ở đây nghĩa là gì? Bắt đầu chúng ta mới tư duy ở trong chữ đấy.
(57:26) Chúng ta mới hiểu được cái nghĩa của người xưa tạo ra nên cái kinh đấy. Sau lại nghe thầy giảng về ý nghĩa của này thì chúng ta mới hốt nhiên đại ngộ. Chừa đại ngộ thì cũng tiểu ngộ, cũng hiểu ra được ý nghĩa của một cái câu kinh văn này. Thế nhưng mà bây giờ chúng ta dịch ra buộc phải dịch ra thì là gì? Phép người con thánh nhân dạy.
(57:47) Ồ, phép người con. Người con này là người con nào? Chúng ta hiểu được hết nghĩa không? đọc lên thì chỉ nghĩ là cái này cho người con thôi. Nhưng mà đệ tử này cái nghĩa gốc của nó là gì? Là đệ tử của thánh hiền nhân. Là học trò của thánh hiền nhân chứ không chỉ là người con mà học trò của thánh hiền nhân nữa.
(58:06) Chữ quy này nó không phải chữ phép mà chữ quy này là bao gồm một chữ phu và một chữ kiến. Đây ví dụ chúng ta nhìn chữ Q. Chữ Q là bao gồm một chữ phu và một chữ kiến. Đây là nói gì? Là kiến giải của bậc trượng phu. Chữ Q này nghĩa là kiến giải bậc trượng phu chứ không chỉ đơn giản là cái phép, không phải là quy tắc.
(58:36) Đấy chúng ta hiểu như vậy thì nếu mà chúng ta biết được chữ thì chúng ta sẽ nhìn được rất là rõ trong chữ. Đấy chính là cái về mặt ý nghĩa của nó. nó bao hàm cái triết lý nhân sinh ở trong đấy. Cho nên chúng ta học được một chữ ấy là chúng ta học được cái triết lý nhân sinh ở trong đấy rất là rõ ràng. Cho nên từng ly, từng tí một, từng chữ một đều ở trong đều bao hàm ở trong này.
(59:04) Trên người xưa khi tạo chữ ấy thì rất là hay. Khi tạo chữ rất là hay và từ chữ mà tạo nên văn thì còn hay hơn nữa. Bởi vì tạo nên văn rồi ấy là để truyền thừa cho trong nghìn đời xong. Cho nên bây giờ nếu chúng ta học đúng được chữ Hán, chúng ta hiểu được nghĩa gốc thì chúng ta có thể trực tiếp đối thoại với Khổng Tử.
(59:34) đọc văn của Khổng Tử, chúng ta có hiểu được, có thể hiểu được chính xác là Khổng Tử à đang nói gì. Cho nên ở đây chúng ta thấy chữ Hán thực sự là mang có những cái tính chất đặc biệt như vậy. Đây là nói chữ Hán. Chữ Hán, chữ nôm của chúng ta thì cũng là được tạo nên ở trên cái cơ sở. ở trên cơ sở của à cái chữ chữ Hán như vậy. Cho nên mỗi một chữ nôm là chúng ta tạo ra đều có tuân thủ những quy tắc của lục thư.
(1:00:16) Chúng ta đều từ những cái chữ cơ bản, chữ sơ văn, chúng ta tạo nên cái chữ nôm của chúng ta phiên âm, những lời nói của chúng ta trong âm đó cũng biểu ý ở ngay trong đó. Cho nên ở đây chúng ta thấy từng ly từng tí một đều là giúp chúng ta à học tập. Ví dụ để này để mà cho đồng học nhìn thấy thì chúng ta sẽ cùng xem. Ví dụ chữ nôm có một số chữ nôm à như vừa nói với đồng học.
(1:00:52) Nếu chúng ta mượn chữ chi làm chữ nói chữ chi và chữ gì chẳng hạn là chữ chi này là cũng là mang ý nghĩa là hỗ trợ rồi à cũng là mang ý nghĩa là giới giới từ phía sau ấy. Còn có một số cái chữ khác bản thân chúng ta sau này có điều kiện mà học chữ nôm thì chúng ta sẽ thấy rất là rõ. Đây ví dụ như chúng ta nói là à chữ trong trong của trong ngoài chẳng hạn.
(1:01:37) Trong của trong ngoài chẳng hạn. Thế thì nói chữ trong nếu mà chúng ta à dùng ấy thì người xưa dùng chữ trong là tạo thành chữ là như thế nào? là bao gồm một chữ đồng là lấy biểu âm và một chữ trung để biểu ý. Đây là chữ trong đấy. Trong trong đầm gì đẹp bằng sen. Chúng ta nhìn thấy thì cảm giác như là rất nhiều nét nhưng mà nếu khi chúng ta học rồi ấy thì chúng ta tự nhiên thấy nó rất đơn giản.
(1:02:11) Chữ trung thì biết rồi, chữ đông biết rồi thì kết hợp với nhau. Đó chỉ là biểu âm thôi. Nó rất là là giá hay. Cho nên là chữ mỗi một chữ nô mà chúng ta khi học thực ra nó không có quá nhiều chữ. Nếu cho chúng ta dùng thường xuyên ấy thì chúng ta cũng sẽ nhớ được. Nhưng mà đáng tiếc là chúng ta ít dùng cho nên thực sự là rất khó nhớ.
(1:02:31) Rất khó nhớ. Nhưng mà khi chúng ta học chữ Hán, chúng ta nghiên cứu thêm chữ nôm nữa, chúng ta bước vào đình đền miếu mạo thì chúng ta cũng sẽ à hiểu được ý nghĩa của à tướng chữ này. Thì hôm nay trao đổi đến với các đồng học về à đến cái phần này à buổi sau chúng ta sẽ cùng học về lục thư và các ví dụ tức là bắt đầu bước vào chữ.
(1:03:00) Nhưng mà trước khi bước vào chữ như lần trước nó đồng học thì chúng ta cần phải chuẩn bị. Bây giờ đồng học trước khi chúng ta học bài tiếp theo thì hy vọng đồng học chúng ta ở nhà chúng ta luyện tập các nét cơ bản. Mỗi chữ Hán của chúng ta đều cấu thành từ những cái nét cơ bản. Cho nên là ngay ở dưới cái liên kết của à của bài học chúng ta cũng sẽ gửi luôn cho các đồng học về à cái hình mẫu các mẫu của các nét cơ bản.
(1:03:36) Như vậy để mà luyện tập chữ này thì chúng ta cần luyện tập nhiều. Khi dùng bút chì thì chúng ta nhớ phải dùng bút chì 8b hoặc là 7B để cho cái nét chữ chúng ta được mềm mại. Khi viết thì chúng ta phải viết trong vở ô ly và viết ô chữ lớn. Với ôi, chúng ta nên viết 4 x 4 hoặc là 3 x 3 là viết cho lớn để chúng ta quen. Và khi chúng ta tập viết thì chúng ta viết từ những nét cơ bản.
(1:04:08) Ở trong liên kết gửi các đồng học ở ngay phía dưới thì chúng ta những nét cơ bản thì có chúng ta học có mấy chục nét đấy chúng ta tập luyện nhiều à chúng ta cứ y theo video chúng ta làm ví dụ nét ngang thì chúng ta tập viết nét ngang như thế nào ngang thẳng đúng không ngang bằng sổ thẳng bằng này không có nghĩa là bằng bằng de luôn mà chúng ta thấy cái chữ mà muốn đẹp ấy cái bằng nó hơi nghiêng lên một chút là như nen ngang hay chúng ta tập cho đến khi nào mà cái tay của Chúng ta có thể viết được nét ngang của nó
(1:04:39) bằng như này đó thì chúng ta dừng lại. Đó, chúng ta lại tiếp tục tập cho đến khi nét sổ đúng không? Nét sổ thẳng. Sổ chúng ta viết khi nào nó thẳng đi thôi, thẳng tay thì thôi. Rồi là nét chủ chấm chúng ta cũng tập nét chấm như thế nào, bắt đầu bút ra sao và tập như thế nào. Thì cái này chúng ta có thể tập và tìm các đồng học à đi học trước để chúng ta hỏi thêm, để chúng ta tập luyện ra nhiều.
(1:05:07) để làm sao khi chúng ta tập rồi ấy thì chúng ta quen chúng ta sẽ tập viết sang à một cái chữ trong trong nhà trong viết chữ ấy thì người xưa hay lấy chữ vĩnh người ta gọi là vĩnh tự bát pháp để làm gốc của thư pháp thì chúng ta cũng tập từ chữ vĩnh này sau khi tập xong ấy chúng ta thử viết chữ vĩnh xem chữ vĩnh đây có nét chủ chấm này.
(1:05:31) Đó nét này nét móc này lên này. Đó, nét này như này đó có nét mát, có nét phẩy, có nét gập đầy đủ các nét thì chữ vĩnh này gọi là vĩnh tự bát pháp. Đó. Thì chúng ta nhìn thấy từ chữ vĩnh này à chúng ta sẽ thể hiện được là chúng ta à viết được đến đâu rồi. Thì trước khi mà chúng ta vào học chữ thì chúng ta phải học nét cơ bản trước.
(1:06:04) Đồng thời chúng ta phải nhớ sau khi học nét cơ bản thì chúng ta học quy tắc bút thuận cũng đồng thời gửi cho đồng học à các quy tắc bút thuận để chúng ta nhớ các tài liệu đi cùng hỗ trợ chúng ta. Tuy nhiên quy tắc bút thuận thì trước hết là chúng ta học thuộc. Học thuộc xong thì chúng ta phải tập viết nhiều.
(1:06:27) À đến phần chữ thì Việt sẽ chia sẻ các đồng học cách nhìn chữ mẫu. Chúng ta cứ viết nhiều theo chữ mẫu đồng thời chúng ta đây gọi là mô phỏng. Đồng thời chúng ta nhớ lại xem những quy tắc bút thuận chúng ta đã học là gồm những quy tắc nào để cho chúng ta à có thể bắt đầu được. Ví dụ như là à chúng ta học quy tắc bút thuận thì chúng ta phải biết quy tắc bút thuận thì nét nào trước.
(1:06:59) nét nào sau à thì chúng ta mới từng bước từng bước một chúng ta làm. Như vậy thứ tự quy tắc bút thuận của chúng ta ấy thì chúng ta phải nhớ à trong quy tắc của nó ở đây sẽ cho đồng học à các cái chữ mẫu để đồng học sẽ nhìn thấy à quy tắc bút thuận sẽ viết như thế nào thì chúng ta cũng sẽ bao gồm trong các video chữ mẫu để chúng ta học.
(1:07:29) Thế thì chúng ta phải nhớ ngoài học các nét cơ bản ra có nét ngang, nét sổ, nét chấm, nét hất à nét má, nét gập, nét nét móc. Chúng ta cứ học dần như thế theo cái video mẫu thì chúng ta học quy tắc bút thuận nên học thuộc. Ví dụ như là ngang trước, sổ sau, phẩy trước, mác sau, giữa trước rồi trái phải, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong vào nhà đóng cửa. Bộ xước thì viết sau cùng.
(1:07:56) Thì cái phần này đến buổi sau. Khi bắt đầu bước vào chữ tượng hình bắt đầu bước vào trước khi bước vào chữ đầu tiên thì Việt sẽ chia sẻ với đồng học kỹ hơn. Buổi học hôm nay chúng ta tạm dừng ở đây. Xin cảm ơn tất cả quý vị đồng học đã lắng nghe. [âm nhạc] Ye.