Học tập: HÁN TỰ NHẬP MÔN – Bài 5 – Chữ Vạn (萬), Quy (龜), Tha (它) | Thầy Hoàng Anh Việt chia sẻ – YouTube
https://www.youtube.com/watch?v=Oun-5nIl1uo
Transcript:
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả quý vị đồng học. Xin mời ngồi. Hôm nay a chúng ta tiếp tục tiết học về Hán tự nhập môn. Ở tiết trước chúng ta cũng đã trao đổi cơ bản về phương pháp chúng ta cùng nhau học tập. À bắt đầu từ tiết này, chúng ta sẽ bước vào cùng nhau học tập vào từng chữ ở trong cuốn sách Hán tự nhập môn.
(00:46) Khi chúng ta học tập Hán tự nhập môn thì các đồng học à chúng ta đối với đồng học chúng ta mới thì chúng ta sẽ chú trọng nhiều hơn vào à tập viết thể chữ khải thư. Ở đây các đồng học nhớ trước khi chúng ta à bắt đầu vào học chữ thì các đồng học hãy dành thời gian chúng ta viết theo các nét mẫu mà chúng ta đã trao đổi buổi trước.
(01:21) Một chữ Hán của chúng ta à bao giờ cũng nằm trong ô vuông, được kết cấu trong ô vuông. Và chữ viết thì kết cấu những nét cơ bản. Cho nên nhất định các đồng học phải tập viết nét cơ bản trước để chúng ta quen tay, quen nét. Khi bước vào thì chúng ta không lạ lẫm. Bởi vì cái gì cũng cần à thành thạo.
(01:52) Sau khi chúng ta tập nét cơ bản thì nét cơ bản chúng ta có mấy loại nét đấy thì các đồng học cứ lần lượt chúng ta tập nét ngang viết như thế nào, nét sổ viết như thế nào, à nét chấm viết như thế nào, nét hất viết như thế nào thì cái tuần tự chúng ta à viết đến khi quen tay thì chúng ta tập sang bước tiếp theo là quy tắc bút thuận. Chúng ta phải nhớ quy tắc bút thuận bao giờ trước khi viết chữ thì chúng ta phải học quy tắc ngay trước.
(02:25) Học quy tắc rồi nhưng mà chúng ta cũng không dễ gì chúng ta áp dụng được ngay. Nhưng chúng ta cần phải theo lối xưa để chúng ta quen cái quy tắc này để các đồng học chúng ta lần lượt từng bước. Lối xưa là gì? Có nghĩa là ở mỗi chữ thì trong video chúng ta bao giờ cũng sẽ đính kèm cái chữ mẫu à bao gồm chữ này sẽ viết tuần tự thứ tự như thế nào.
(02:51) Các đồng học cứ y theo cái thứ tự chữ mẫu này để chúng ta viết. Dần dần chúng ta sẽ quen quy tắc bút thuận. Thế thì chúng ta nhớ quy tắc bút thuận thì có gì? Có ngang trước sổ sau. Thứ nhất là có ngang trước sổ sau. Chúng ta phải nhớ một là ngang trước sổ sau. Ngang trước sổ sau. Ví dụ như là à chúng ta viết chữ a chữ can này chẳng hạn.
(03:28) Đây ngang trước sổ sau đó hay là chữ thập. Đó, chúng ta viết chữ thập ngang trước, sổ sau. Rất đơn giản chúng ta quen. Thứ hai là phẩy trước max sau. Phẩy trước max sau. Ví dụ chúng ta viết chữ nhập phẩy trước ma sau. Đó, đây là chữ nhật phẩy trước ma sau. Quy tắc viết đều chúng ta cứ tập như này thì sẽ quen.
(04:12) Hay là chúng ta ngang trước, sổ sau, phẩy trước, ma sau. Ví dụ chúng ta có lấy chữ hôm qua chúng ta học là chữ mộc chẳng hạn thì sẽ có cả các nét này. Đây là ngang trước này, sổ sau này, phẩy trước này, ma sau này. Chúng ta thấy không? Đó. Đây là chữ mộc. Đây là thứ tự à chúng ta thứ hai là phải trước mắt sau.
(04:44) Thứ ba là giữa trước rồi trái phải. Có những quy tắc bút thuận, có những chữ thì chúng ta phải viết ở giữa trước và nét bên trái rồi đến nét bên phải. À chúng ta ví dụ lấy chữ tiểu. Tiểu đây là nét móc là giữa trước rồi đến trái đến phải. Đó đây là trái phải hai nét chấm. Ở đây chúng ta thấy nép chấm đây là chữ tiểu giữa trước rồi trái phải.
(05:17) Đó thì tương tương tự như vậy có rất nhiều chữ chúng ta sẽ thấy giữa trước rồi trái phải. Ví dụ như chúng ta viết chữ thủy, thủy nước chẳng hạn cũng là như vậy. Cũng là giữa trước rồi trái phải. đây giữa trước đó rồi trái phải cũng phải trước m sau đó cũng là như vậy. Chúng ta thấy đây là quy tắc thứ ba về bút thuận.
(05:55) Quy tắc thứ tư là từ trái qua phải. Viết thì phải viết từ trái qua phải. Chúng ta không viết ngược. Khi nào nét bút của chúng ta cũng viết từ trái qua phải. Từ trái qua phải. Từng nét bút một cũng đều từ trái qua phải đúng không ạ? từng nét từng nét một như thế à đều từ trái qua phải. Đấy, ví dụ chúng ta viết chữ nhập này cũng là từ trái qua phải.
(06:22) À đây là từ giữa. Còn từ trái qua phải có những nét nào? Ví dụ như là à chúng ta viết chữ chi chẳng hạn, chi cảnh đấy. Đây ngang trước, sổ sau đây. Từ trái qua phải. Ví dụ như thế đây là à từ trái qua phải thì có cái chữ này thì sẽ dễ hơn. Chữ này là từ trên xuống dưới chúng ta nhìn th sẽ rõ trái qua phải.
(06:45) Ví dụ như là chúng ta lấy chữ xuyên thì sẽ dễ nhất ba nét. Chữ xuyên từ trái qua phải. Ví dụ chữ xuyên, nét phẩy, nét phết. Đấy, nét sổ và nét sổ. Đó, đây là chữ xuyên là từ trái qua phải. Thì đây là quy tắc từ trái qua phải. Quy tắc thứ năm mà chúng ta thường áp dụng trong quy tắc bút thuận là từ trên xuống dưới.
(07:18) Viết một chữ thì viết từ trên xuống dưới. Ví dụ lúc nãy lấy ví dụ chúng ta viết chữ chi từ trên xuống dưới đây. trên xuống dưới đó. Đây là quy tắc trừ trên xuống dưới. Chúng ta không viết ở dưới này trước à rồi mới lên ở trên này mà từ trên xuống dưới. Đây là quy tắc bút thuận. Đấy. Quy tắc thứ sáu là từ ngoài vào trong. Có những chữ thì chúng ta phải viết từ ngoài vào trong. Từ ngoài vào trong.
(07:55) Từ ngoài vào trong. Ví dụ như là chúng ta lấy chữ nguyệt mặt trăng. Đây là ngoài, đây là trong. Đây là gọi là từ ngoài vào trong. Đó. Quy tắc thứ bảy là vào nhà đóng cửa. Có rất nhiều chữ chúng ta buộc phải à viết ở ngoài trước, viết ở trong và sau đó mới kết thúc sau cùng. Ví dụ như là à chữ nhật. Chữ nhật chúng ta viết là vào nhà đóng cửa. Đây. Đây là viết bên ngoài trước.
(08:39) vào nhà đóng cửa. Đây là chữ nhật. Chữ nguyệt thì từ ngoài vào trong, chữ nhật thì vào nhà rồi đóng cửa. Và quy tắc cuối cùng chúng ta thường hay áp dụng ở trong quy tắc bút thuận là bộ xước, bộ xước và bộ dẫn viết sau cùng. xước và dẫn. Đây là bộ xước và bộ dẫn là viết sau cùng. Đây là quy tắc. Ví dụ như chúng ta viết chữ đạo.
(09:45) Đây là thủ. thủ thì thêm bộ xước nữa. Đây là chữ đạo, bộ xước viết sau cùng. Đây là nguyên tắc khi chúng ta viết chữ. À tất cả quy tắc này chúng ta đều phải nhớ, đều phải học thuộc. Từ học thuộc từ nét ngang. Thứ nhất là ngang trước, sổ sau, phẩy trước mắc sau. giữa trước rồi trái phải, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong vào nhà đóng cửa và xước dẫn sau cùng.
(10:26) Đây là quy tắc bút thuận mà chúng ta phải thuộc. Các đồng học chúng ta ghi nhớ cái này trước, ghi nhớ quy tắc này trước, sau đó chúng ta mới bước vào tập viết chữ. Đấy, chúng ta học thuộc trước, sau chúng ta mới bắ bắt đầu bước học chữ. Rồi sau khi chúng ta đã thuộc được quy tắc bút thuận, chúng ta đã quen là viết các nét cơ bản chính là lúc chúng ta sẽ bước vào học chữ trong danh mục chữ tượng hình.
(11:03) Đây là những chữ sơ văn đầu tiên khi con người quan sát là vạn vật xung quanh thì dùng hình vẽ, dùng cái tượng hình để mô tả à con vật này và những cái sự kiện hoặc những cái tính chất liên quan đến con vật này. À cho nên là có à chữ tượng hình. Chữ tượng hình chúng ta nhớ là khác với hình vẽ nhá.
(11:31) Hình vẽ thì đúng tỉ lệ thật, còn tượng hình là lấy cái nét thôi. Cho nên là chữ tượng hình sẽ khác với hình vẽ. À chữ tượng hình thì có cả biểu nghĩa ở trong đây nữa. Xin mời đồng học mở chữ vạn. Đây là thuộc về chữ tượng hình chính lệ à tượng hình ban đầu à khi người ta tạo ra. Chúng ta cùng đọc. Mời đồng học nhìn vào trong sách.
(12:03) Chúng ta nhìn vào chữ vạn có ở đây thầy Lục Khắc Hùng thầy lấy chữ à giáp văn, chữ kim văn, chữ tiểu triện, chữ lệ thư và chữ khải thư. Đây là à chữ vạn biến đổi qua các thời kỳ. Vạn là tượng hình của con bọ cạp. Giáp văn, kim văn giống hình con bọ cạp. Phần trên là hai cái kìm, ở giữa là thân bọ cạp, ở dưới là đuôi bọ cạp. Bọ cạp mẹ mang thai sinh ra hàng chục, thậm chí hơn trăm con.
(12:50) Bọ cạp con sau khi sinh ra tự động bám lấy thân. của bọ cạp mẹ, đặc biệt ở sau lưng là nhiều nhất. Bọ cặp con dày đặc, nhung nhúc, số lượng không thể tính kể. Cổ nhân nhìn thấy thì mượn hình tượng số lượng nhiều không thể tính kể đó để làm chữ vạn đại biểu cho con số 10.000. Mượn lâu rồi không trả, chỉ khéo tạo một chữ khác là chữ sái để trả lại nghĩa gốc cho con bọ cạp.
(13:21) Chữ tiểu triện là biến đổi từ chữ giáp văn, chữ kim văn mà ra. Chữ lệ thư và khải thư là biến tấu từ chữ tiểu triện đã nhìn không ra hình dạng con bọ cạp nữa. Chữ giản thể là chữ vạn bắt đầu từ thời người đường. Chú thích thuyết văn chép vạn trùng dã tòng hữu tượng hình. Chữ vạn là một loại côn trùng xuất phát từ chữ nhữu là chữ tượng hình.
(13:59) Lời bàn hứa thận căn cứ vào truyện văn để nói là từ chữ nhữu là không chính xác. Ý nghĩa thấy trong điển tịch một là con số mạnh tử lương huệ vương chép. Vạn thủ thiên yên thiên thủ bách yên bất vi đa hĩ. Nghĩa là vạn lấy từ nghìn, nghìn lấy từ trăm, không thể cho là không nhiều được. Ý nghĩa thứ hai, nhiều tuân tử phú quốc chép. Cổ hữu vạn quốc, kim hữu thập số yên.
(14:39) Xưa có vạn nước, nay chỉ còn hơn chục. Ý nghĩa thứ ba, cực hạn. Hán thư kinh bố truyện chép ngã chi thủ thiên hạ khả dĩ vạn toàn. Ta lấy thiên hạ có thể vạn toàn. Từ thường dùng thiên sơn vạn thủy tức là muôn trùng sông núi. Vạn tượng canh tân nghĩa là vạn vật đổi mới. Vạn cổ trường thanh nghĩa là muôn thùa mãi sanh.
(15:16) À chúng ta vừa thấy ở trong phần đọc của thầy Lưu Khắc Hùng, thầy Soạn. Rồi chúng ta đối với các bạn đồng học chúng ta mới thì khi chúng ta học chữ này thì chúng ta tập viết chữ vạn là thể chữ khải thư. Thế thì khi chúng ta tập viết chữ vạn, các đồng học, chúng ta hãy nhìn ở trong chữ mẫu, chữ vạn sẽ viết thứ tự như thế nào, nét nào trước, nét nào sau.
(15:51) À thì chúng ta khi viết thì chúng ta cũng nghĩ luôn đây là mình đang viết nét gì. À đây là mình đang viết theo thứ tự nào. Ấ ví dụ như là chúng ta viết ở trên đầu tượng hình của hai cái kìm chúng ta gọi hai cái càng đấy. Thì cái này cũng là gì? À trên trước dưới sau đúng không? Tiếp tục đến phần giữa là phần thân.
(16:21) Chúng ta thấy đây cũng là gì? Vào nhà đóng cửa. Rồi ở dưới này chúng ta xem cái chữ cái phần dưới cùng nữa chúng ta viết đây là nét H đó. Nét chấm chúng ta thấy đây là chữ vạn. Chữ vạn thì chúng ta viết khi chúng ta học thì chúng ta cũng viết trong vở ô ly là ba ô như thế này. Ba ô như thế này. Chúng ta nhìn xem ở trong chữ mẫu vị trí của từng nét ra sao, thứ tự nét như thế nào, chúng ta bắt trước.
(17:01) Cho nên thời xưa ấy dạy học dùng chữ giáo là chữ dạy. Giáo nghĩa là gì? Chúng ta xem chữ giáo. Giáo đây là chữ giáo. Ngày nay viết nhưng mà ngày xưa ấy, ngày nay viết giữ giáo từ chữ hiếu và à chữ phộc. Ngày xưa là chữ giáo viết như thế này. Đó là từ chữ hiệu và chữ phẩm cũng là chữ hiếu. Đọc là hiếu cũng được.
(17:32) Cái này phần này có nghĩa mô phỏng là gì? Con trẻ tử là học trò là người con. Học trò ở dưới nhìn lên bảng thầy viết thế nào thì bắt trước thầy. Đấy, nếu như mà học trò bắt trước không tốt thì thầy dùng cây gậy nhỏ gọi là cái phộc đánh khẽ vào. Phộc đánh khẽ. Phộc có nghĩa đánh khẽ. Thì đây là chữ giáo. Cho nên chúng ta học tập thì chúng ta cũng y theo cách này là chúng ta bắt trước người xưa à viết như thế nào, thứ tự ra sao, các đồng học cũng y theo thứ tự này chúng ta viết.
(18:11) Đây là đối với các đồng học mới à chúng ta tập viết chữ thì chúng ta viết ngay trước quen rồi. Sau khi quen và thuộc chữ rồi thì chúng ta chuyển sang nghĩa. Vì âm đọc thì chúng ta đã đọc cùng rồi. Chữ vạn khi đọc chúng ta có hình và âm. là chúng ta đọc như thế. À đồng thời sau khi chúng ta học xong à chúng ta lại quay lại nghe à phần giảng.
(18:36) Chúng ta thấy ý nghĩa của nó rất là hay. Bởi vì chúng ta học qua Internet, chúng ta học qua đĩa, cho nên chúng ta có thể tạm dừng bất kỳ lúc nào chúng ta viết xong, tập xong thì chúng ta tiếp tục nghe ý nghĩa. Như vậy cũng không cản trở cái việc học của chúng ta. Nếu học trên lớp thì các đồng học sẽ phải à đuổi theo thời gian của thầy.
(19:06) Như vậy cũng hạn chế rất nhiều bạn ở nhà tập luyện. À chúng ta xem a hãy xem hình giáp cốt văn của chữ vạn này. Chúng ta thấy cái gì ạ? Thấy hình giống hệt con bò cạp. Hình giống hệt con bò cạp. Vẽ lên bàn cho đồng học thấy. Thường thì chúng ta vẽ bao giờ cũng không thể đẹp bằng cái hình lấy gốc. Đây là hình con bò cạp đấy.
(19:37) Thầy vẽ thì không được đẹp. Nhưng mà chúng ta nhìn thấy trên hình này là gì? Có hai cái kìm, có cái đuôi. Con bò cạp này là con bò cạp biết trích người đấy. Chúng ta có sợ bò cạp không? À lúc nhỏ à các bạn thành phố bây giờ nhìn thấy con bò cạp này rất là ít. Nhưng việc lúc nhỏ ở dưới quê thì những b cạp này thấy rất nhiều.
(20:03) Đặc biệt là khi chúng ta nhấc một cái tảng đá hoặc là ở trong nhà chúng ta có gì ẩm thấp, những cái bao tài sắc rắn chúng ta để lâu ngày chúng ta mở ra, viên gạch chúng ta mở ra thấy con bò cạp nó chui ra rất là sợ. Người lớn cảnh báo là đừng để nó cắn, nó cắn vào rồi sẽ bị dễ bị sốt. Cho nên là bò cạp thì có độc nó biết chích.
(20:27) Ở phía trước là hai cái kìm chúng ta thấy không? Phía trước là hai cái kìm chúng ta gọi là cái càng. cái kìm dùng cái kìm ngọc kép ấ nó là hai cái kìm hai cái càng à ở giữa chúng ta thấy nó là cái thân ở giữa là thân bỏ cạp và sau cùng là đuôi. Chữ này đúng là rất tượng hình đúng không ạ? Nhìn là rõ ràng ngay không thể sai được. Cho nên chúng ta lại quay sang chữ tượng hình chữ giáp cốt văn ngày xưa ấy à thì chúng ta lại nhìn theo a từng bước một sang đến chữ kim văn, chữ tiểu triện, chữ lệ thư, chữ khải thư.
(21:07) À chúng ta sẽ thấy à Hứa Thận ngày xưa ấy là khi mà ông viết bộ thuyết văn giải tự thì ông đa phần dựa vào chữ tiểu triện, lấy chữ vạn chữ tiểu triện để ông a để ông làm. Thì ở đây chúng ta nhìn thấy chữ tiểu triện ở trên hình của chữ tiểu triện ấy thì chúng ta phía trên thì vẫn còn thấy được cái càng của nó.
(21:36) Vẫn trên thấy được cái càng của nó. Nhưng mà phần đuôi ấy thì rất là khó nhận ra. Phần đuôi lúc này phần dưới chúng ta rất khó nhận ra đây là đây là thuộc về cái phần đuôi con bò cạp. Nhìn không dễ gì, không dễ nhìn ra phần đuôi nên sang tứ trểu triện thì đã biến đổi khác rồi. Chính vì thế nên hứa hứa thận nhìn là lúc này cũng mang tính suy đoán nhiều.
(22:04) Đây là thầy à thầy Lưu Khang Hùng thầy thầy cũng chia sẻ là hứa thận mang tính suy đoán tương đối nhiều. Dựa vào chữ tiểu triện, ông nói chữ vạn này, chúng ta xem ở cái phần thuyết văn ấy, vạn trùng dã, tòng nhữu tượng hình. Đó ông nói chữ vạn này là chữ trùng thì không sai. Đúng là vạn là thuộc về loài trùng thì cái nào không sai.
(22:32) Nhưng phần giới ông nói là tòng nhữu. Chữ nhữu. Đây là chữ nhữu. À chúng ta thấy đây là chữ nhữu. Chữ nhữu này bây giờ chúng ta cũng ít thấy. Đây là chữ nhữu. Ông nói là từ nhữu. Thế thì à khi chúng ta học ấy thì chúng ta cũng nếu như bạn nào mà học chuyên sâu về văn tự thì chúng ta sẽ truy gốc xem chữ nhữ này như thế nào, sẽ truy gốc xem từ chữ nhữ này sẽ như thế nào thì chúng ta sẽ hiểu ra.
(23:18) Cho nên chúng ta nhìn thấy ông hứa thận ông mô tả này thì chứng tỏ ông không phải lấy từ giáp cốt văn để ông ông giải thích mà ông lấy từ chữ à tiểu trện để ông giải thích. Bản thân chúng ta bây giờ chúng ta có giáp cốt văn chúng ta đối chiếu thì chúng ta rõ ràng thấy không phải là từ chữ nhữu nữa.
(23:39) Chắc chắn là không phải từ chữ nhữu mà đây là chữ tượng hình toàn thể. Chữ tượng hình chính lệ không phải xuất phát từ bộ nào cả. không phải xuất phát từ chữ nào cả, biến hóa từ chữ nào cả. Cho nên là trong lời bàn viết phía sau nói là hứa thận căn cứ vào truyện văn để nói là từ chữ nhữu là không chính xác.
(24:00) Đây chúng ta khi chúng ta đọc chúng ta phải để ý việc này. Đây là cách chúng ta cầu học vấn. Chúng ta không chỉ viết chữ mà chúng ta phải cầu học vấn là chúng ta cầu cái trí tuệ ở trong đấy nữa. Cho nên chúng ta hiểu từ chỗ này. Ở trong a phần phía dưới chúng ta có phần là ý nghĩa thấy trong điển tịch. Thì trong điển tịch ở đây, thầy Lưu Khắc Hùng, giáo sư Lưu Khắc Hùng có lấy cho chúng ta một vài ví dụ để chúng ta nhìn thấy à một vài ví dụ chúng ta có thể đọc.
(24:36) Đối với những bạn nào à những đồng học nào chúng ta đã học tiếng Trung hoặc đã từng học chữ Hán thì chúng ta có thể đặt bút chúng ta viết lại những cái phần liên quan đến a à điền tịch này. Chúng ta nên viết lại chép lại nó cũng rất là hay. à một lần để chúng ta biết được ở trong kinh điển, trong điển tịch xưa viết như thế nào cũng là một lần chúng ta học thêm một câu của văn ngôn văn.
(25:05) À đồng thời cái phần phiên dịch phía sau là khi phiên dịch thì Việt cũng lấy theo một cái ý nghĩa để phiên dịch mà thôi. Cũng không dám chắc 100% là lời phiên dịch mình là chuẩn. Bởi vì cái sở học của mình à đang còn giới hạn. Cho nên các đồng học chúng ta học nếu như mà có cái dịch hay hơn, ý nghĩa hay hơn thì chúng ta cũng có thể à đăng tải để cho các đồng học khác cùng học theo.
(25:34) Ở đây lấy một số ví dụ để chúng ta xem ở trong sách. À bây giờ quay lại trên chữ nhữu. Bây giờ nếu như mà chúng ta tra cứu ở trong thuyết văn giải tự ấy thì ví dụ như ở đây lần trước tra cứu Việt tra cứu thì nó khoảng ở trăm trong cái sách này là khoảng 746. À bây giờ thuyết văn giải tự chúng ta à cũng không khó lắm.
(26:03) Vừa rồi Việt đã tìm hiểu thì có một cái trang trực tuyến người ta đã đưa cái thuyết văn giải tự này lên, đặc biệt là đưa cả cái phần à phần của Hứa Thận lên. À phần của Hứa Thận và phần cả của chú giả của đoàn độc tài lên rất hay. Thì cái trang này sẽ đính kèm ở dưới cho đồng học chúng ta xem.
(26:27) Đó trang nếu viết trang phiên âm là Swan tức là thuyếtvăn.org G ORG. Đấy thì cái trang này à các đồng học có thể vào à tra cứu trực tiếp. Nếu chúng ta không có điều kiện mua sách à không có điều kiện chúng ta thỉnh sách thì chúng ta có thể vào đó chúng ta tra cứu trực tiếp. Thì từng ở trong này chúng ta sẽ có à rất là cụ thể. Ví dụ ở trong này à nói với chúng ta chữ nhữu là trang 746 chẳng hạn.
(26:57) Thì trong chữ nhữu à nói với chúng ta rất là cụ thể à chữ nhữu thì nói với chúng ta là thú túc nhuyễn địa dã tượng hình. Tức là nói về cái chân thú ý nói là dấu chân thú. Nhưng rõ ràng là chúng ta nhìn thấy nếu mà chúng ta suy suy luận ra thì rõ ràng con bò cạp này chữ vạn con bò cạp này không thể từ chữ nhữu được.
(27:28) Nên đây chúng ta có thể ngài suy luận ra. Chúng ta không phải bài bác những cái những cái kết quả của à của cổ nhân. Thế nhưng mà thầy dạy chúng ta khi học thì chúng ta cầu chân. Cầu chân thì chúng ta suy luận từng từng bước từng bước một. chúng ta sẽ có nhiều cái cảm ngộ trong à việc học tập. Đấy, cho nên là cái đuôi của con bò cạp mà từ cái chữ giáp văn biến dần thành phía sang dưới tiểu triện thì gần giống cái chữ nhữu.
(28:01) Cho nên là à à việc viết chữ nhữu nó cũng là bình thường thôi. Cho nên chúng ta cứ mạnh dạn bất kỳ điều gì chúng ta nên đặt câu hỏi. Ví dụ như hôm trước cũng có nói đồng học cái chữ chữ khốc. Chữ khốc là viết như thế này. Chữ khốc viết như thế này. Chữ khốc này là từ bộ huyên. Huyên. Huyên là hai cái miệng. Hai miệng cứ nói luyên huyên ấy.
(28:32) Hai cái miệng nói chuyện với nhau là bộ huyên. À chữ huyên với chữ khuyển tạo thành chữ khốc. Thế là đáng lẽ ngày xưa là gì? À ngày xưa là nói về con chó kêu, con chó rống đấy, con chó rống nhưng mà lâu ngày mượn cuối cùng mượn thành tiếng con người khóc. Mượn lâu rồi cũng thành quen. Cho nên chúng ta biết lịch sử như thế để chúng ta hiểuấy.
(28:57) Chúng ta cứ mỗi lần như thế thì chúng ta cứ mỗi lần chúng ta cứ truy truy tìm cái gốc như thế thì chúng ta sẽ thấy cái gốc của nó rất là hay. Đó. Đây là chữ vạn các đồng học viết được chưa? Chúng ta hãy viết lại à chữ vạn à một lần chúng ta nhớ và chúng ta nhắm mắt lại nghĩ xem chữ vạn là tượng hình con gì, nghĩa gốc của chữ vạn là gì và chữ vạn này sau này được dùng như thế nào thì chúng ta nhớ rất lâu.
(29:32) À đây là chúng ta đã xong chữ vạn. Nếu có thắc mắc nào thì các đồng học chúng ta có thể à đặt câu hỏi à gửi cho Việt à chúng ta sẽ thảo luận. Chúng ta sang chữ tiếp theo là chữ Q. Quy có nghĩa là con rùa. À đây là một nghĩa của nó. Cho nên khi chúng ta chúng ta học ở đây cái chữ đầu tiên chỉ nói âm đọc, hình chữ và âm đọc cho nô học nghe thôi.
(30:06) Mỗi chữ thì ý nghĩa của nó rất là rộng. Cho nên là chúng ta hiểu nghĩa gốc, chúng ta hiểu ý nghĩa phái sinh của nó để chúng ta học tập. Chúng ta hãy nhìn vào chữ Q. Quý đồng học hãy mở sách ra, nhìn vào chữ Q. Chữ Q giáp văn có hai hình để đến kim văn đến tiểu triện, lệ thư, khải thư. Qượng hình của con rùa đen, tức là ô, chữ Q, giáp văn 1 và kim văn là cúi xuống nhìn.
(30:54) Giống hình con rùa với cái đầu mai rùa và bốn chân cái đuôi ngắn. Chữ Q giáp văn thứ hai và chữ tiểu triện đều là nhìn bên cạnh. Phía trên giống hình đầu rùa, bên phải là mai rùa, bên trái là chân rùa, phía dưới là đuôi rùa. Chú thích đoàn chú chép tả tượng túc, hữu tượng bối giáp duệ giả tượng vĩ. Bên trái tượng trưng cho chân, bên phải tượng trưng cho lưng.
(31:41) Phần kéo dài phía dưới tượng trưng cho đuôi. Ý nghĩa thấy trong điển tịch một, nứt nẻ. Trang tử tiêu giao du chép, tống nhân hữu thiện vi bất quy, thủ chi dược giả. Người Tống khéo làm thuốc trị tay để không bị nứt nẻ. Ý nghĩa thứ hai, dùng mai rùa để xem bói. Tả truyện Hy công tứ niên chép thệ đoạn quy trường bất như tổng trường.
(32:21) Nghĩa là bói cỏ thi ngắn, bói mai rùa dài. Vậy nên chọn cái dài. Từ thường dùng có quy giáp nghĩa là mai rùa. Ô quy là rùa đen. Quy niên hạc thọ là sống lâu như rùa hay là thọ lâu như hạc. Sống lâu như rùa, thọ lâu như hạc. Đây là phần à chữ Q ở trong sách Hán tự nhập môn của chúng ta. Chúng ta nhìn vào chữ này nhìn thấy rõ ràng là chữ này rất tượng hình đúng không ạ? Nhìn chữ rất tượng hình, rất chuẩn.
(33:06) Nhìn là ra con rùa rồi. À kể cả những chữ khải thư cũng thế, chúng ta cũng có thể nhìn ra được. chữ giáp cốt văn ấy à khi khai quật các cái mảnh giáp cốt văn thì cũng có rất nhiều rất nhiều cái chữ giáp cốt văn mà người xưa viết như thế này. Nên ở đây a thầy Lưu Khắc Hùng thầy chỉ chọn hai kiểu thôi. Hai kiểu à chọn hai kiểu này để chúng ta xem.
(33:41) Một là cái kiểu nhìn cúi xuống nhìn t nhìn nhìn con rùa từ trên xuống. Thứ hai là nhìn à thứ hai là nhìn bên cạnh nhìn thấy con rùa ở bên cạnh thì sẽ ra hình số hai. Thì đây là cái phần tượng hình giáp văn. À các đồng học chúng ta đồng học sơ học thì chúng ta bắt đầu tập viết. Chúng ta nhìn vào thể chữ khải thư để chúng ta tập viết. Chúng ta cũng có chữ mẫu.
(34:19) Đồng học hãy mở à video chữ mẫu để chúng ta cùng xem. Các đồng học hãy xem chữ mẫu à viết như thế nào. À chúng ta hãy dành thời gian khoảng 1 phút để chúng ta xem. Và xem rồi thì chúng ta sẽ phải à tập phác thảo lại cho quen cái nét. Mới đầu vào khi chúng ta thông thường học tập là theo chữ Hán thì chúng ta hay học một nét, hai nét cho quen.
(34:58) Nhưng mà học Hán tự nhập môn này chúng ta vào luôn chữ rất nhiều nét. Chữ vạn cũng rất nhiều nét mà chữ Q cũng rất nhiều nét. Đồng học có thấy choáng không ạ? Thấy sợ không ạ? À cảm thấy rất là choáng váng đúng không? Thế nhưng mà chúng ta đừng sợ ngay từ đầu chúng ta cứ y theo như thế này.
(35:19) Nét cơ bản chúng ta học rồi và à thứ tự các nét chúng ta học rồi. Chữ mẫu cũng chúng ta cũng có ở đây. Chúng ta cứ thế chúng ta tập viết. Viết xong những chữ này gian nan đấy. Nhưng mà như chữ sau này ấ những chữ khác chúng ta tự nhiên thấy viết rất là dễ dàng. Vì khó vượt qua thì dễ thì càng dễ vượt qua. À chúng ta cùng viết chữ Q.
(35:43) Các đồng học hãy nhìn vào chữ mẫu để viết. Chúng ta nhìn cái hình trên này. À khi viết trên bảng thì chắc chắn không đẹp bằng chữ mẫu. À kể cả thầy viết cũng không thể đẹp bằng chữ mẫu. À chúng ta có năng khiếu nghệ thuật thì chúng ta viết đẹp hơn chữ của thầy viết. Đây là chữ Q. Chúng ta nhìn trên này thấy rất là rõ.
(36:05) đúng không? À thực ra đến chữ Khải Thư thì chúng ta không thể gọi là tượng hình như ban đầu được nữa. Nó không hề giống nhiều chữ ban đầu nhưng mà có thể mường tượng ra phần trên này là phần đầu, phần trên này là phần thân. Đây là hai cái chân rùa, đây là cái mai rùa. Giống như là con rùa đang nhìn theo nhìn bên cạnh.
(36:23) Chúng ta nhìn bên cạnh của giữ giáp văn hai đấy sẽ giống như vậy đúng không ạ? Phía cuối là còn giống cái đuôi rùa nữa. Con rùa này có đuôi. Con rùa này có đuôi còn không? Còn chữ giáp văn trên này còn không thấy đuôi rùa. Đấy. Sang chữ kim văn chúng ta thấy chữ kim văn là ngày xưa khắc trên đỉnh đồng ấy. Khắc trên đồng ấy.
(36:45) Thì người xưa khắc trên đồng thì chỉ cắc được như thế này thôi là chúng ta thấy cũng tương đối giống. Đây là chữ Qộc học hãy tạm dừng. Chúng ta viết cho xong chữ Q đi. Tập viết cho xong. À và khi nào xong rồi chúng ta lại tiếp tục mở ý nghĩa của chữ Q. Chúng ta cùng tìm hiểu à ý nghĩa của chữ Q. Chúng ta nhìn à vào chữ Q chúng ta sẽ thấy con rùa thì có đầu, có thân, có đuôi, có bốn chân.
(37:29) Đây là nhìn từ trên xuống à chữ giáp văn đúng không ạ? À còn nếu mà chúng ta nhìn từ cạnh bên đấy chúng ta nhìn con rùa ở bên ấy để con rùa lên bàn chúng ta nhìn xem. Đấy, chúng ta nhìn con rùa dưới đất thì nó khác. Con rùa để trên bàn thì hình tượng nó khác. Đấy, có hình cái chân, hình cái lưng cong cong và phía cuối là chúng ta thấy có cả mai con rùa đúng không ạ? có con rùa đấy.
(38:00) Chúng ta nhìn thấy con rùa này thì bây giờ chúng ta vẫn còn thấy nhiều. Cho nên các đồng học chúng ta có thể nhìn vào đây chúng ta nhìn thấy ở trong sách của thầy Lưu Khắc Hùng thì thầy chỉ lấy phần đoàn chú để cho chúng ta học tập vì có lý do của thầy à chúng ta lại thắc mắc vì sao các đồng học mở thuyết văn ra chúng ta hoặc truy cập vào trang thuyếtvăn.
(38:37) org ORG ấy, Sết ở ngay ở phía dưới của cái video này. Đ chúng ta truy cập vào trang đấy. Hy vọng là lúc đầu học xem cái video này, cái trang này vẫn còn tồn tại. Nếu không thì chúng ta vẫn phải mở sách ra à tìm chữ Q đọc như thế nào. Như trong sách này là à chữ Q hơn trang 685. Đây ở trong thuyết văn này ở trang 685 là có chữ Q đó.
(39:09) Chữ Q ở đây chúng ta nhìn thấy rất là rõ ràng đúng không ạ? Chữ Q ở trang 685. À Hứa Thận nói thế nào nhỉ? Quy Cựu Dã. Ngoại cốt nội nhục giả giã. ngoại cốt, nội nhục, giả dã. Ông lại thêm một câu nữa tòng tha. Các đồng học chúng ta sơ học thì chúng ta thấy viết nhiều chữ thì chúng ta hơi hơi ngại, hơi choáng đúng không? Ở đây viết ra để cho đồng học chúng ta nhìn thấy một chút thôi.
(39:49) Đây là cái cách của ông đây. Trích một đoạn ở trong phần thuyết văn viết cho chúng ta. Quy có nghĩa là cựu. À quy có nghĩa là cựu. Chúng ta nói thế này để đồng học chúng ta bắt đầu chúng ta tìm hiểu sâu hơn một chút. Đối với đồng học chúng ta đã học thì khi chúng ta tra cứu thuyết văn chúng ta sẽ đặt ra nghi ngờ ngay và chúng ta phải suy luận để chúng ta biết rằng rằng là thực ra ấy bây giờ chúng ta đọc chữ quy và chữ cựu là hai chữ khác nhau.
(40:25) Nhưng mà thời xưa ấy, nếu mà chúng ta truy gốc những cái âm cổ của thời xưa ấy thì hai chữ này đều đọc giống nhau, đều đọc giống nhau. À đều đọc là cựu là đọc là quy cả hoặc là cựu là quy. Bây giờ chúng ta quá lâu rồi chúng ta không thể biết được. Cho nên đây là cách của ông trong cái thuyết văn giải tự thì Hứa Thận có nói là à à trong cái phần chú ấy thì thầy ông Đoàn Ngọc Tài có nói hứa Thận là quy cái chữ quy này à về cho à chữ cựu vì nó gần giống với cái âm đấy gọi là điệp vận vi huấn đấy.
(41:08) dùng điệp vận để chúng ta thấy đây là cách người xưa tạo chữ cũng có thể là mượn cái âm để mà tạo cũng rất nhiều tạo âm đồng âm với nhau cho nên khi giải thích thì ông Hứa Thận sẽ lấy lấy cái cái âm này chúng ta gọi là gọi là thanh huấn hay âm huấn để mà giải thích trên những buổi đầu học có chia sẻ đồng học chúng ta à chữ về mặt nguyên tắc văn tự thì có chia ra là à cả cái phần tùy theo cái nghiên cứu khác nhau mà có cái ghi là văn tự, cái ghi về thiên về thanh thì chúng ta thấy như vậy.
(41:46) Cho nên chúng ta thấy ông a Hứa Thuận trong cái phần thuyết văn nói rất là hay. Ngoại cốt nội nhục. Ngoại cốt ngoại cốt là gì? Xương ở ngoài, thịt bên trong. Đây là cách giải thích của Hứa Thận cũng rất là hay. Chúng ta thấy rất là dễ thương đúng không ạ? à ngoại cốt ngoại cốt nội nhục thì đây chính là cách giải thích của Hứa Thuận.
(42:10) Chúng ta có thấy cái này rất là hay. À cho nên để chúng ta nhớ thì chúng ta chỉ cần nhớ cái phần giải thích của đoàn chú là được rồi. Là bên trái tượng trưng cho chân, bên phải tượng trưng cho lưng. À phần kéo dài phía dưới là tượng trưng cho đuôi. Đây là cái phần. Còn nếu mà chúng ta à chúng ta nghiên cứu sâu hơn nữa thì chúng ta phải nghiên cứu sâu hơn về thanh huấn, về âm cổ nó rất là phức tạp.
(42:39) Đây chỉ mạn bàm một mạn đàm một chút cho đồng học. Chúng ta thấy cái việc nghiên cứu học phấn một chữ thôi. Có khi các đồng học mà nghiên cứu sâu ấy thì chúng ta cũng thể làm thành cái luận văn được. Một cái bài luận văn rất là sâu sắc. nó không đơn giản đâu. Cho nên là cái chữ của Hứa Thận giải thích ấy cũng có khi cũng rất khoa học nhưng mà đôi khi có sai sót đó là chuyện bình thường.
(43:07) Vì cái thời hứa Thận làm thì tư liệu nó có nhiều cái nó thiếu sót. Ví dụ như phần giáp cốt là không có thì làm sao mà giải thích chính xác được. Cho nên chúng ta thấy việc này là bình thường. Rồi trong chữ Q này chúng ta thấy cũng bạn đạp về chữ Q này thêm một chút thời gian. Ở phía dưới chúng ta thấy có phần nói về ý nghĩa thấy trong điển tịch.
(43:35) Trong a phần tiêu giao du của sách trang tử có nói là người Tống khéo làm thuốc trị tay để không bị đứt nẻ. Có nghĩa chữ quy này có nghĩa là thuốc không bị đứt nẻ. À hữu thiện vi bất quy thủ chi dược giả. làm thuốc để trị nhất nè. À thế thì cái câu này như thế nào? Ngày xưa rất là hay cái câu chuyện nếu mà sau đấy chúng ta sau này chúng ta đọc cái sách Tiêu Giao Du ấy thì chúng ta thấy cái thời à thời mà à chiến tranh thời xưa ấy thì à người xưa có đánh đánh nhau ở trên sông nước nhiều.
(44:15) đánh nhau trên sông nước nhiều cho nên là có người dâng lên cái bí phương, một cái phương pháp, một cái phương thuốc bí truyền cho Ngô Vương. Lúc đấy Ngô Vương xoa tay trèo thuyền trên nước không sợ cho nên lúc đấy rất dũng cảm. Người xưa sợ nhất trèo thuyền trên nước thì nó bị ăn tay. Nên sau này à có cái phương thuốc này rồi thì cứ trèo thuyền mà không sợ bị ăn tay, không sợ bị hỏng tay, nứt tay.
(44:45) Cho nên đoàn đoàn quân của nước Ngô Thắng Lớn. Lúc đấy Ngô Vương rất là vui cho nên phong cho cái người mà dâng cái phương thuốc bí truyền này làm hầu công làm làm công hay làm hầu gì đấy và cái thời đấy cho nên là trong sách trang tử có nói là à người mà có cái phương thuốc này ấy, người mà có cái phương thuốc đặc trị này thì cho dù sau này làm cái nghề giặt nhuộm.
(45:13) Ngày xưa chúng ta biết nghề giặt nhuộm là hiếm có lắm. Làm nghề giặt nhuộm thì không sợ bị không sợ bị hỏng tay. Cho nên sau đó có nhiều người muốn có được phương thuốc này bỏ rất nhiều tiền để mà mua nhưng mà vẫn không mua được. Đấy, chúng ta thấy đây là trong sách xưa viết một ý nghĩa của chữ Q để chúng ta biết điển tích của chữ Q là như vậy.
(45:38) Có lẽ là à cái nứt nẻ này là lấy từ cái điển tích những ngày người xưa là à dùng cái mai rùa đâm một lỗ lên đấy. Xong rồi à nung lên để tạo cái vết nứt để mà chiêm bói thì sau này cũng lấy một cái ý nghĩa trong đó để làm nứt nẻ. Đ chữ Q thì có ý nghĩa thêm một chút cho đồng học chúng ta thêm thú vị là như vậy. Xong phần chữ Q à Q rùa.
(46:06) Chúng ta nhớ về viết chữ này nhiều nét, chữ này rất nhiều nét. Cố gắng chúng ta tuân thủ quy tắc bút thuận. Càng khó thì càng phải luyện nhiều, càng khó thì càng phải tập nhiều. Và khi tập viết nhiều thì chúng ta cố gắng là tuân thủ đúng. Ví dụ nét chấm thì phải chấm như thế nào? Là thời gian đầu chúng ta có thể tìm các đồng học đi trước để chúng ta à hỏi xem những viết này đúng chưa.
(46:37) À các đồng học đi trước sẽ có kinh nghiệm. Ví dụ như chỗ này cần ấn bút mạnh tay hơn một chút thì chúng ta sẽ ấn bút mạnh tay hơn một chút tạo ra một cái nét rất là đẹp. nút nét chấm, nét phẩy, nét má, nét móc đều phải có th trải qua rèn luyện thì chúng ta mới viết được. Đây là chữ Q mô tả hình con rùa, tượng hình. Rồi chữ Q chúng ta chia sẻ đến đây.
(47:04) Chúng ta cùng sang chữ tiếp theo. Chữ tha. Tha. Chúng ta hãy nhìn à vào hình tượng chữ giáp văn, chữ kim văn, chữ tiểu triện, chữ lễ thư, khải thư. Chúng ta hãy nhìn một lượt à bình tâm chúng ta quan sát từng chữ từng chữ một, từng cái hình một. Tha là hình tượng con rắn. Chữ tha giáp văn phía trên thêm hình chữ chỉ là chỉ cho chân người.
(47:53) Bởi khi đi đường thì giẫm phải con rắn nên bị nó cắn. Vậy vì vậy thêm vào chữ chỉ để phân biệt với loài trùng khác. Chữ kim văn và tiểu triện là biến đổi từ chữ giáp văn mà ra. Chú thích: Thuyết văn chép trùng dã tòng trùng nhi trưởng tượng oan khúc thủy vĩ hình thượng cổ thảo cư hoạn tha cố tương vấn vô tha hồ. Nghĩa là chữ tha là một loài trùng.
(48:38) từ trùng này mà lớn lên giống như trên hình. Thượng cổ sống trên thảo nguyên thường gặp nạn rắn. Vậy nên con người thường hỏi nhau vô tha hồ là không có rắn chứ. Lời bàn chữ tha ban đầu là chỉ chung cho loài rắn. Thời thượng cổ sống trong hang động, gặp nạn rắn, nạn trùng bệnh, gặp bạn bè, khi bạn bè gặp nhau thì chào hỏi nhau thì nói vô tha hồ, nghĩa là không có rắn chứ hay là vô dạng hồ, không có bệnh gì chứ? Chính là như hiện nay chúng ta nói bạn có khỏe không? Ý nghĩa thấy trong điển tịch một nghĩa là dị thường, lễ ký, đàn cung chép
(49:42) hoặc cảm hữu tha trí, dĩ nhục quân nghĩa. Nếu dám có ý khác là sỉ nhục nghĩa quân vương. Hai là chỉ cho ở bên cạnh đồng nghĩa với chữ tha. có bội nhân thi kinh hạc minh chép tha sơn chi thạch nghĩa là đá của ngọn núi kia lời chú rắn rất đáng sợ con người kỵ hủy trực tiếp gọi là tha hay là xà vì thế khi người ta muốn gọi rắn thì thường dùng kia dùng ấy để thay thế cho nên chữ chữ tha đã được dùng để làm nhân xưng ngôi thứ ba.
(50:38) Ý nghĩa thứ ba, lịch lạc cong vẹo. À dương tử pháp ngôn chép, quân tử chính nhi bất tha, bậc quân tử thì ngay thẳng chứ không cong vẹo. Bốn nghĩa là lạc đà. Hán thư thiện quốc truyện chép. Dân tùy xúc mục trục thủy thảo, hữu lư mã đa thác tha. Dân theo việc chăn nuôi gia súc dọc theo nguồn nước và đồng cỏ, có lừa, ngựa và nhiều lạc đà.
(51:20) Đây là phần ghi ở trong sách mà thầy giáo sư Lô Khắc Hùng đã soạn cho chúng ta. Chúng ta thấy rất là thú vị đúng không ạ? Vô tha hồ. Bây giờ chúng ta người xưa gặp nhau à là vô tha hồ. Đương nhiên chúng ta phải hiểu là chữ Hán xuất phát từ những cái vùng của Trung Quốc. Cho nên cái việc này nó cũng hơi khác so với chúng ta, thậm chí kể cả khác so với người Trung Quốc hiện đại.
(51:53) Cho nên chúng ta gặp nhau, bây giờ gặp nhau ấy thì gọi nhau là bạn có khỏe không? Xin chào, bạn có khỏe không? Tiếng Anh gọi là gì ạ? How are you? Đó người xưa là vô tha hồ. Gặp nhau là vô tha hồ. Không có việc gì chứ? Không giẫm phải rắn chứ, không gặp rắn chứ. Tôi người sơ sợ rắn lắm. Cho nên gặp phải con rắn này bao giờ phải hỏi nhau gặp rắn là kiểu gì cũng nguy hiểm đến tính mạng.
(52:23) Hay gặp những cái loại trùng mà nguy hiểm đấy hay vô dạng hồ là những loại trùng nguy hiểm thì đều là người xưa hỏi thăm nhau đều là như thế cả. Chúng ta xem cái chữ giáp văn, chữ kim văn, chữ tiểu triện. Chữ giáp văn nhìn rất là giống con rắn đúng không ạ? Chữ giáp văn nhìn rất là giống con rắn à vẫn cẩn thận là nhìn con rắn này là phía trên là có thêm ở phía dưới là con rắn phía trên là chữ chỉ.
(52:52) À đây vẽ ra đồng để đồng học chúng ta nhìn thấy nhé. Bây giờ vẽ con rắn trước. Con rắn thì như thế này. Đây là cái đầu rắn. Đây là cái đuôi rắn. Đó. Thì con rắn là như thế này. Cong đuôi cong lên. Đây con rắn như thế này. Phía trên là có chữ chỉ. Ngay cả cái chữ a chữ giáp văn chúng ta cũng cần phải học rất là nhiều thì chúng ta mới thuộc được.
(53:28) Trên này là chữ chỉ. Đây là dấu chân. Đây chữ chỉ. Dấu chân. Vì sao chỉ? Ch chỉ ngày nay viết là như thế này. Chỉ có nghĩa là dừng. Đi rồi cũng có lúc phải dừng không ai đi mãi. Cho nên là chữ chỉ có nghĩa là dừng. Mà một khi con người cái dấu chân ấy, cái chân mà giẫm phải rắn thì sao? Thì rất là đáng sợ.
(54:00) Cho nên đây là con rắn ở trên là cái dấu chân đó. Đây là hình tượng hình của con rắn chúng ta. Đây là của giáp văn nhá. Là tượng hình nhìn rất là rõ. Nên người xưa ấy từ cái thời xa xưa là nhìn chữ chỉ này là nhắc nhở nhau là phải cẩn thận nhé. Nhìn thấy con rắn đừng có giẫm lên nó. Giẫm lên nó là nguy hiểm đấy. Đây là nhìn sang chữ gác văn.
(54:25) Chúng ta nhìn sang xem chữ kim văn, chữ tiểu triện, chữ lệ thư. Sang chữ kim văn, chữ tiểu triện chúng ta sẽ nhìn thấy ha. Chữ kim văn, chữ tiểu triện nó biến dạng một chút rồi. Cái tha này ấy, tha này bây giờ nó mũm mĩm hơn rồi. Tha ngày xưa có hình như thế nữa mà tha bây giờ nhìn chúng ta thấy mũm mĩm không? Nó rất là mễm.
(54:51) Cho nên là cái chữ đều nó đều biến theo thời gian tượng hình nó theo từng thời điểm mà người ta vẽ tùy theo cái cái nguyên tắc viết chữ của thời đại mà thay đổi. Giống như bây giờ ấy sang cái chữ chữ khải thư, chữ khải thư thì quy định các cái nét cơ bản như thế. Thế thì chữ này phải dùng những nét gì để tạo thành cái hình như vậy? để cho chúng ta thấy là à với cái hình tượng hình như thế thì phải dùng cái chữ như thế nào tạo thành.
(55:21) Chúng ta khi học thì chúng ta viết đây là chữ tha, đây là nét chấm. Đây như thế này đó các nét móc và cùng nét phẩy và nét móc. Đây chữ thà. À chúng ta đừng có tưởng tượng ra chữ này là bộ gì với bộ gì nhá. Chúng ta không tưởng tượng ra bây giờ chúng ta học Hán tự nhập môn không phải học 214 bộ.
(55:53) 214 bộ thì chúng ta có thể nghĩ ra để chúng ta tra từ điển. Đấy là từ điển là của Hán ngữ hiện đại. À nay chúng ta học từ văn tự sơ văn. Thế thì chữ này là chữ tượng hình ở con rắn. Chẳng qua là dùng cái cách của hiện tại, cái thể chữ của hiện tại để tạo nên cái chữ này. Cũng giống như chúng ta nhìn chứ con bò cạp ấy.
(56:14) Phía trên không phải là bộ thảo. Phía trên không phải bộ thảo đúng không? Chữ vạn ở trên không phải bộ thảo mà là tượng hình của con bò cạp. Giống như ở đây, ở phía trên này chúng ta những cái nét này đều là chữ tượng hình, nét tượng hình mà tạo thành. Cho nên đây là nó là toàn thể chứ không phải là à ghép chữ nào với chữ nào.
(56:35) Chúng ta nhớ đối với những chữ sơ văn, đặc biệt chữ tượng hình thì không có ghép, không có ghép chữ nào với chữ nào cả. Cho nên không được suy đoán. Đây là chữ tha. À chúng ta hãy nhìn chữ mẫu. Chữ này thì ít nét hơn. Sang đến chữ tha này tự nhiên thấy nhẹ nhàng hẳn. Vì ít nét hơn. Chúng ta rất là dễ viết. à trên trước chúng ta viết nét chấm từ trên trước.
(57:04) Khi viết nét chấm thì cái bút ban đầu nó bút chì ấy của chúng ta ban đầu nó hay nhẹ tay sau đó ấn bút xuống thì nó sẽ tạo thành nét chấm. Đương nhiên trên bảng thì thầy không thể à không thể viết nét chấm giống như trong bút chì được. Không thể đẹp như thế được. Nét chấm dưới này cũng thế.
(57:21) Ban đầu là nhỏ sau là ấn bút xuống. Ở trên này thì lúc cái nét gập này chúng ta đi một đoạn chúng ta gập vuốt một cái. Giống như ở đây cái nét phết này cũng thế. Ấn bút xuống vuốt một cái. Nét này vòng bút xuống đến đây móc lên một cái. Đây là chúng ta cứ tập dần chữ viết. Đây là chữ tha. Tha là tượng hình con rắn có đồng học. Hãy tạm dừng để tập viết.
(57:51) Hãy tập viết. là chữ tha. À theo khi tập viết thì chúng ta hãy à để ý theo quy tắc bút thuận trên từ trên xuống dưới từ trái qua phải nét nào trước nét nào sau đều phải tuân thủ. Nếu mà chúng ta không tuân thủ thì sau này chúng ta sẽ tự viết theo ý mình rất là nhiều. Rồi chúng ta tập viết xong thì chúng ta sẽ tiếp tục cùng nhau trao đổi.
(58:25) À người xưa người xưa gặp nhau thì gọi là vô tha hồ. Bây giờ gặp nhau thì bạn có khỏe không? Tiếng Trung gọi là nỉ hảo ma. Tiếng Anh gọi là how are you? Bây giờ chào nhau là như vậy nên người xưa mỗi thời điểm mỗi thời đại nó khác nhau nhiều lắm và mỗi ở mỗi vùng địa lý cũng khác nhau nhiều lắm. Tùy vào cái lịch sử người xưa sợ gặp rắn nên là vô tha hồ không gặp rắn chứ không sao chứ.
(59:00) Đấy cho nên chữ chúng ta thấy chữ này là rất là đáng sợ đúng không? Rồi, con rắn rất là đáng sợ nên là người xưa rất là kiêng, rất là kiêng kỵ. À người xưa kiêng kỵ à không gọi thẳng đó là con rắn kỹ húy mà không nói là tha. Không nói là tha à không nói là rắn mà sau đấy là người ta gọi là ví dụ gặp con rắn ấy thì không nói là rắn mà gọi là tha.
(59:35) tha tức là nó gọi là nó cái đó nó cái đó như thế phải không? Kia ấy ấy ấy có có ấy có có gặp cái ấy không có gặp cái đó không chứ không nói gặp con rắn vì nói con rắn tức là kỵ húy nên rất là hay dần dần là à chữ tha này ở trong a ngôn ngữ Trung Quốc thì trở thành ngô thứ ba. Chúng ta thấy chữ tha.
(1:00:01) Chữ tha này ở trong tiếng Trung Quốc thì gọi thầy dùng thành ngôi thứ ba ha. Chữ tha này ngôi thứ ba nó tha là nó thành ngôi thứ ba. Thế đây là chúng ta thấy cái lịch sử hình thành của ngôn ngữ cũng là như vậy. Đương nhiên chúng ta đối với ngôn ngữ Việt Nam chúng ta có nó có ấy rồi thì không cần chữ tha này nữa. Như vậy chúng ta hiểu là người Trung Quốc là dùng chữ tha là lý do là như vậy.
(1:00:35) Đây là phần chữ tha rất dễ hiểu đúng không ạ? Đồng học hãy tập viết tiếp nhé. À xong chúng ta sẽ sang chữ tiếp theo. Hôm nay a chúng ta à đã tập viết được ba chữ à cũng đã hiểu được ý nghĩa à của nó. Bởi vì những chữ đầu tiên thì chúng ta phải lưu ý cố gắng tập viết nhiều. Viết nhiều thì mới quen tay, viết nhiều thì chúng ta mới thành thục được.
(1:01:07) Thực ra học chữ Hán thì không khó. À cái khó là nằm ở chỗ kiên trì thôi. Thời gian chúng ta kiên trì và đi đúng hướng. Như hiện tại là chúng ta học cái bộ Hán Tự nhập môn này là à chúng ta đi đúng hướng, chúng ta hiểu được cái nghĩa gốc thì sau này chúng ta vận dụng rất là dễ dàng. Cho nên ngày xưa khi mà về bắt đầu học thì nghe được một câu của thầy Vọng Tây.
(1:01:35) Thầy Vọng Tây cũng là một người à rất có tiếng trong việc dịch pháp là những người đầu tiên mà dịch pháp của hòa thương Tĩnh Không để chuyển bá ở Việt Nam cho chúng ta. Khi học 214 bộ ấy thì thầy nói câu à rất ấn tượng là gì? Nếu mà không có những ngày tháng vùi đầu thì sẽ không có những ngày tháng ngẩng cao đầu.
(1:02:01) Cho nên học tập thực sự là chúng ta phải dụng công. Học tập thực sự chúng ta phải vùi đầu. Giống như người xưa nói trong Tam Tự Kinh là gì? Dùi đâm chân, tóc buộc xà. Lúc nào cũng phải nỗ lực học tập. Nếu mà qua được cái giai đoạn đầu tiên này học nhập môn, sau này vào học kinh điển chúng ta sẽ học rất là nhanh.
(1:02:25) Thì hi vọng các đồng học chúng ta cùng nhau nỗ lực, cùng nhau cố gắng. Thì buổi hôm nay chúng ta tạm kết thúc ở đây. À xin hẹn gặp lại đồng học vào buổi học ngày hôm sau. [âm nhạc]