[Sub tạo tự động bởi Youtube]
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả quý vị đồng học. Xin mời quý vị đồng học ngồi xuống. Xin mời mở sách Hán tự nhập môn. Chúng ta tiếp tục học à từ bài ngày hôm qua. Hôm qua chúng ta đã bắt đầu bước vào tiết học đầu tiên của Hán tự nhập môn. À cũng có nhiều đồng học chúng ta thắc mắc đến bây giờ học chữ Hán nhưng mà vẫn chưa bắt đầu viết chữ.
(00:54) Cho nên chúng ta thắc mắc này rất là chính xác. Để có thể viết chữ được một cách vui vẻ, hoan hỉ thì chúng ta sẽ cần phải à nắm được lịch sử hình thành của chữ. Ngày hôm qua chúng ta được à à thầy dẫn dắt chúng ta vào trong bắt đầu sơ tạo của chữ Hán từ ngày xưa từ thời Phục Hi là thời Phục H là ông nhìn lên quan sát trời đất mà ông a phân ra à có trời, có đất, có âm, có dương, có giống giống đực có giống cái.
(01:45) Cho nên dùng hai cái vạch để biểu thị cho cái phân loại đó. À ngày hôm qua chúng ta học đây chính là hảo âm và hảo dương. Hào dương được thể hiện bằng một cái vạch liền nét gọi là hào dương. và hào âm là thể hiện được thể hiện bằng hai nét đứt quãng gọi là hào âm. Đây là chúng ta có thể xem là những ký tự đầu tiên, những chữ viết đầu tiên của chữ Hán.
(02:29) Từ những cái ký tự này, từ những cái hào này, sau này người xưa dần dần bắt đầu xếp trồng những cái nét vạch này lên nhau để biểu thị cái hiện tượng tự nhiên mới sinh ra bát quái. Thực ra ở trong sách chúng ta thấy thầy nói với chúng ta là gì? À hiện nay không có cách gì tỉ mỉ biết một cách chính xác về à bát quái.
(03:02) Bát tức là tám, quái là quầy. Người xưa từ hai cái vạch này đã tổ hợp lại dựa vào phân loại thành dựa vào ba cái yếu tố. Thực ra ba yếu tố này cũng là do người sau diễn dịch, mình cũng không thể biết chính xác được là thiên, địa nhân, tam tài mà xếp trồng theo tổ hợp ba cái vạch này lên nhau để mô tả cái hiện tượng tự nhiên.
(03:33) Ví dụ như là chúng ta nhìn thấy ở trên này chúng ta xếp ba vạch liền xếp trồng lên nhau thì ở đây chính là quẻ càn. Quẻ càn này là mô phỏng cho trời. Đây là cách diễn dịch của người xưa. Đấy, chúng ta cũng không biết chính xác có phải chính xác như vậy không nhưng mà hiện tại đang lưu chuyển như vậy. Ba vạch đứt xếp trồng lên nhau thì gọi là quẻ khôn là tượng trưng cho đất càn khôn.
(04:23) Đây là tượng trưng cho đất. Tiếp tục chúng ta thấy cứ tổ hợp như thế phân loại ví dụ như thể à dùng cái vạch à dương vạch âm kết hợp với nhau ba cái trồng lên nhau. Ví dụ như là chúng ta có như cái quẻ này là hai âm và một dương thì gọi là quẻ chấn. Đây là quả chấn. Chấn là nói về quẻ này là mô phỏng.
(05:04) Muốn à người xưa dùng quẻ này để mô phỏng. Đây là nói về sấm chớp và chúng ta sau này nói là lôi. Đấy. Cứ như thế tám quẻ được tạo ra dựa vào sự hình thành này để mô phỏng trời đất. Bát quái là như vậy. Tám quẻ là gì? À có càn ở đây nói càn là trời, khôn là đất, chấn là sấm chớp, tốn là gió, khảm là nước, ly là lửa, cấn là núi, đoài là đầm.
(05:37) À cấn là núi, đoài là đầm. Đó thì đây là những cái mô tả về tự nhiên kết hợp từ những vạch âm dương chúng ta gọi là bát quái. Bát quái nó đơn giản như vậy. Nó không có gì phức tạp cũng không phải là cái vấn đề gì nó mang tính huyền bí cả. Sau này đến thời nhà Chu thì có Chu Dịch.
(06:06) Chu dịch thì trong chu dịch lại xếp trồng đám bát quái này xếp trồng lên nhau tạo nên 64 quẻ. 8 x 8 = 64. Ví dụ như là xếp trồng hai quẻ càn lên này thì là có một quẻ gọi là thuần càn. 1 2 3 4 5 6 thuần càn. Đây gọi là lục hào. Ở trong kinh dịch gọi là lục hào, tức là sáu vạch. Đấy, lục hào chúng ta hay nghe à khi mà chia sẻ các thầy hay nói là quẻ khiêm, lục hào giai cát đúng không ạ? Khiêm quái lục hào giai cát.
(06:52) Đây là nói về sáu hào đều cát tường. À trong kinh dịch của nhà Chu chúng ta gọi là Chu Dịch thì phân loại như thế này và mỗi quẻ như thế này thì lại diễn dịch khác nhau. Khi chúng ta đọc thì chúng ta nghĩ rằng đây là nói về à quẻ bói nhưng thực tế ở trong này mang tính giáo dục rất là lớn. Ở đây thời gian không có nên là Việt xin phép mà sẽ không chia sẻ quá sâu vì nếu chia sẻ sâu thì dài lắm.
(07:23) Ví dụ nói một quẻ càn thì dạy cho chúng ta cách thậm chí thành lập doanh nghiệp như thế nào, từ lúc sơ khởi như thế nào đến lúc phát triển ra sao, càn là thể hiện cho sức mạnh mà, càn là thể hiện cho thuần dương. Cho nên là muốn một doanh nghiệp cường thịnh thì cần phải làm gì thì sáu hào sẽ dạy cho chúng ta làm việc đấy. Thế thì trong sáu hào này ấy thì người xưa trong cái chu dịch ấy có cách đính khác nhau.
(07:49) À thứ tự sáu hào này chúng ta thấy 1 2 3 4 5 6 đến từ dưới lên trên. Nhưng mà ngày xưa không đọc là nhất nhị tam tứ ngũ lục mà đọc từ sơ cho đến cửu. Ở dưới này gọi là sơ. Sơ chữ sơ. sơ cho đến thượng. Sơ cho đến thượng ở dưới này thì là ở giữa là có nhị, tam tứ ngũ. Và đối với khi đọc thì dựa vào những cái hào này, nếu như gặp hào dương thì người xưa sẽ thêm vào chữ cửu thì gọi là hào dương.
(08:33) Gặp hào âm thì đọc là lục. Cửu và lục. Thấy ở đây là ví dụ như là đây là gì? Sơ cửu, cửu nhị, cửu tam, cửu tứ, cửu ngũ và ở đây là thượng cửu. Đây là cách đọc trong sáu hào. Dạ. nói qua một chút để các đồng học chúng ta nếu gặp phải kinh dịch và học kinh dịch thì chúng ta biết cách đọc là hình thành như thế.
(09:05) Thế vì sao đọc là cửu? Vì sao đọc là lục? À chúng ta biết trong âm dương thì dương có thể bao hàm âm, còn âm thì không thể bao hàm dương. Cho nên chúng ta nhìn trên này quẻ càn và quẻ khôn khi mà dương và âm bao hàm với nhau thì tổng cộng có bao nhiêu? 1 2 3 4 5 6 7 8 9. Như vậy là có chín cái tất cả. Chín cái chín cái vạch này kể cả vạch đứt vạch liền tạo thành chín thì người ta gọi là cửu.
(09:45) Có nghĩa là dương cộng với âm. thì có thể dương có thể bao hàm được âm thì gọi là cửu. Gặp quẻ dương thì à đọc là cửu. Lấy thứ tự là cửu. Còn gặp quẻ âm thì đọc là lục. Vì sao? Âm thì không bao hàm được dương. Cho nên âm cũng chỉ vĩnh viễn là giữ ở cái vị trí này là 6 này. Đấy. Âm và ông vẫn là âm. Thì chúng ta thấy 1 2 3 4 5 6 thì đây là người ta người xưa lấy cái con số này để tượng trưng cho cái âm đồng à về thứ tự trong lục hào.
(10:26) À chúng ta khi chúng ta tra cứu trong kinh dịch trong lục hào, chúng ta sẽ thấy thứ tự của lục hào sẽ lần lượt như vậy. đọc đến chỗ nào à gọi là với gọi sơ. Nếu đọc là à sơ lục thì chúng ta biết là cái quẻ dưới cùng là hào âm rồi. Ví dụ đọc là à lục nhị thì cái vạch thứ hai, cái hào thứ hai ấy đó là hào âm. Nếu mà đọc là cửu nhị thì hào thứ hai là hào dương.
(10:55) Thì chúng ta nhìn như thế là chúng ta sẽ hiểu. À chỉ chia sẻ đến đây thôi. À phần này không chia sẻ sâu nữa để chúng ta biết là thực sự là bắt quái không có gì là phức tạp cả. Cho nên Khổng Phu Tử ngày xưa từ kinh dịch mà ngài lấy ra để làm dạy học chúng ta ngài cũng có ngài cũng nói rồi tử bất ngữ là gì? Quái lực loạn thần.
(11:19) những cái thứ mà kỳ dị, những cái thứ mà huyền bí ngài không nói, ngài nói rất đời sống hàng ngày thôi. Cho nên kinh dịch nó không có gì xa xôi, không có gì huyền bí, cũng không phải bói toán gì nó phức tạp cả mà ở trong đó có tính giáo dục rất là cao. À đó là cái quá trình hình thành chữ viết tạo nên là bắt quái là chỉ đơn giản như vậy thôi.
(11:42) sau này người xưa người à người đời sau hình thành từ bát quái lại ra à ra rất nhiều cái thứ khác nhau. À sau khi một thời gian là tạo ra bát quái thì lại có một cái phương pháp người xưa dùng để biểu thị thông tin. À chúng ta mở sang trang tiếp theo là nói về kết thằng thằng là dây thừng. tức là kết dây thừng là người xưa dùng biểu ý bằng cách là kết dây thừng là trong Đại Việt xử ký toàn thư cũng nói với chúng ta à cái thời của Vũ Hùng ấy là quản dân thì dùng cái việc kết dây thừng để mà quản lý nhân dân. Thế vì sao
(12:31) lại dùng cái kết dây thừng để quản lý nhân dân? Thực ra cũng đơn giản thôi, người xưa không có chữ viết. Thế để lưu chữ số liệu, để mà thống kê số liệu thì người ta phải làm thế nào? Thì người ta phải dùng dây thừng thời xưa. Cho nên chúng ta thấy chữ viết không phải một ngày hai ngày mà ra được, phải trải qua rất nhiều thời gian.
(12:52) Đặc biệt ở đây chúng ta nhìn thấy trong cái phần này à có nói với chúng ta việc lớn thì kết dây thường lớn, việc nhỏ thì kết dây thường nhỏ. Người xưa không có văn tự và khi cần có việc ước thệ tức là cam kết hay lời thề. Việc lớn thì kết dây thưởng lớn, việc nhỏ kết dây thưởng nhỏ, kết bao nhiêu là tùy vào vật nhiều hay ít, mỗi người giữ một giây để đối chiếu lẫn nhau cũng như quản lý lẫn nhau.
(13:29) Ở trong này là nói tương đối tỉ mỉ rồi. À chúng ta nghe chúng ta thấy người xưa quản lý đơn giản như vậy vì không có chữ viết nên ví dụ như đếm có bao nhiêu con dê thì lại kết bấy nhiêu cái à cái dây thừng đấy hoặc là gặp cái việc gì mà quan trọng thì người ta dùng cái dây thường lớn thậm chí là có sơn màu khác nhau.
(13:52) À và người xưa đều là dùng cách này để mà biểu ý thôi. Hiện nay thì chúng ta cũng không còn nhiều tài liệu về cái việc kết dây thừng nên chúng ta chỉ có thể phán đoán sơ qua. Ở đây thầy nói là gì? Phán đoán về kết tê thừng là phân chia các mối quan hệ con người bằng cái dây thừng tương đồng.
(14:16) Ví dụ như cùng họ hàng hoặc là cùng dòng tộc thì dùng cái dây thường như thế nào hoặc là ở trong cùng một tổ chức hay trong cùng một đoàn thể nào đó thì dùng cái dây thừng nào để mà phân biệt với nhau. Đến lúc mà cộng đồng cần nhớ lại sự vật đại biểu bằng à kết dây thừng thì mở cái dây thừng đó ra là được. À cho nên là cái việc kết dây thừng này ấy không phải chỉ ở Việt Nam hay ở Trung Quốc đâu mà hầu như các nước trên thế giới à cũng trải qua quá trình này.
(14:48) Như ở trong sách thầy có nói với ngay cả ở Peru ấ là các thành phố đều có quan chuyên môn giải thích về nút thắt, có nghĩa là đã thắt dây thừng rồi và cách thắt như thế nào đều quy định rõ ràng. Và sau khi giải mã thông tin này thì phải có một vị quan chủ trì đứng ra việc giải mã thông tin này.
(15:10) Cho nên cái việc thời xưa quản lý chỉ dùng dây thừng thôi mà quản lý. Chúng ta thấy cái trong lịch sử Việt Nam ghi chép 18 đời Hùng Vương ấy, tức là trải qua hơn 2600 năm, gần 2700 năm. Ừ. hầu như là dùng cái phương pháp kết dây thừng này. À thời đó thì chữ Hán vẫn chưa vào chúng ta được sâu rộng cho nên là dùng đa phần là dùng kết dây thừng để quản lý.
(15:36) Thế mà xã hội thuần hậu và mọi người quản lý với nhau hiểu biệt thông qua dây thừng mà có thể à thông tin kết nối được lẫn nhau rất là tốt. Thì đây là cái giai đoạn mà à còn thắt nút dây thừng. Nhờ cái thắt nút này mà giảm đi rất nhiều cái tranh chấp ở trong đời sống hàng ngày. Chúng ta biết thời xưa ấ chưa có quản lý hệ thống quản lý chúng ta bây giờ.
(16:04) Cho nên việc tranh chấp là bình thường. Nhà với nhà với nhau. Bây giờ chúng ta thấy tranh chấp thì đưa pháp luật. Nhà cửa, đất cát tranh chấp nhau thì có sổ đỏ ghi rất là rõ rh giới, địa chính. Nhưng mà thời xưa thì không như vậy. Cho nên người xưa ấy khi mà giải quyết các vấn đề đều là dùng cái đưa cái dây thắt nút đã lưu trữ này để mà giải quyết các tranh chấp với nhau.
(16:31) Và sau khi à trải qua quá trình thì mỗi nơi à cũng hình thành nên những cái chữ viết khác nhau. Chúng ta sang phần tiếp theo là phần nói về thư khế. Thư khế. Chữ thư khế này có nghĩa là tiêu chuẩn về chữ viết. À tương truyền bản thư khế đầu tiên chính là của thương hiệt. Đây là ở trong này thầy nêu rất là rõ, cũng lấy rất nhiều cái dẫn chứng để minh chứng rằng là thương hiệt là người đầu tiên tạo thư khế, tức là tiêu chuẩn chữ viết.
(17:12) Bởi vì chữ viết không phải là do một người tạo. À chữ viết cũng không phải là tạo ra trong một khoảng thời gian. Cho nên trải qua quá nhiều rất nhiều à thời gian, chúng ta thấy cùng một chữ, cùng một mô tả một hình tượng nhưng mà có rất nhiều cách để mô tả. Cho nên cuối cùng ông Thương Hiệt, thời ông Thương Hiệt là thời của hoàng đế, thời của vua hoàng đế ở bên Trung Quốc gọi là quan sử hoàng đế mới tạo ra một cái tiêu chuẩn.
(17:43) Cái tiêu chuẩn đấy là dựa vào ông nói và à ví dụ người xưa viết nhất, nhị tam, tứ chẳng hạn thì có người thì viết là à một gạch, hai gạch hoặc ba gạch. Ví dụ như thế này, ví dụ như là nhấc thì là một vạch, nhị thì là thêm gạch nữa thành hai gạch. Nhưng mà cũng có nơi là gì? Cũng có nơi là nhất là gạch dọc, nhị là hai gạch này là thể hiện cho à nhất với nhị.
(18:13) Thế bây giờ phải làm như thế nào? thì sau này Thương Hiệt mới à sắp xếp lại làm sao cho tất cả mọi người có thể theo một cái tiêu chuẩn, một cái lề lối để tránh cái việc là tăng giảm tùy ý nét chữ hay là cách viết ra sao. Thì lúc đó Thương Hiệt là coi như người ngày người ngày người ngày người xưa ấ đã thống nhất coi Thương Hiệt chính là cái người mà tạo ra cái tiêu chuẩn này.
(18:40) Tức là một khi mà đã hạ bút xuống viết ấy thì không có thêm bớt gì cả. Cái tiêu chuẩn chữ viết là như vậy. Cho nên là chúng ta thấy thông qua lịch sử à thông qua khảo cổ học chúng ta thấy chữ viết hình thành qua rất nhiều thời kỳ khác nhau. Người xưa cũng không biết chính xác được là chữ viết như thế nào. Nhưng mà nhìn vào à chúng ta đi vào phần tiếp theo, thầy nói chúng ta là từ giáp cốt văn có thể suy đoán được cái ban đầu có chữ Hán.
(19:17) Giáp cốt chúng ta gọi là giáp cốt văn. Giáp cốt giáp cốt văn. Giáp là nghĩa là cái mai của rùa. Cốt là cái xương. Th giáp cốt văn ấy. Ngày xưa người à những người đầu tiên mà người ta viết ra chữ ấy thì người ta đa phần là lấy khắc ở trên mai rùa. Thực ra mai rùa không phải cái mai phía trên đâu mà cái mai phía dưới.
(19:54) Mai phía trên ấy thì nó rất là cong. Cái mai phía trên rất là cong cho nên là không thể viết chữ được. Nhưng cái mai phía dưới ấ thì rất là phẳng và trắng. Cho nên là chữ viết là người ta hay viết, người ta hay khắc là khắc ở trên cái mai rùa đấy. Và xương ấy thì đa phần là lấy xương bả vai của con bò.
(20:15) Thì cái phần xương bả vai là phần xương rộng nhất. Các cái xương khác đều là cái xương nó rất là bé. Ngày xưa thì làm gì có cái phương tiện giấy viết hay là à phương tiện làm bằng công nghiệp như chúng ta bây giờ. chỉ có thể lấy những từ thiên nhiên mà thôi. Khắc trên đá thì rất là khó để người ta làm những tấm bảng, làm những tấm nó nó nhỏ.
(20:38) Ngày xưa làm gì có công cụ cắt đá cho nên đá là cầm cả cảng tảng to thì không thể khắc lên đá được. Thế là người xưa mới khắc trên mai rùa. Nhưng mà một đặc điểm ở trong này chúng ta thấy người xưa khắc mai rùa vì sao? Vì đối với người xưa, ặc biệt là ở trong sách nói là ở thời đại thương ân ấy là người nhà ân là thích xem à bói toán, tức là người ta tin quỷ thần.
(21:07) Thế khi mà xem bói ấy thì trước hết là người ta sẽ đục một lỗ ở trên mai rùa. Cái cái mai cái yếm chúng ta hay gọi là yếm đấy, yếm rùa cũng được. thì đục một cái lỗ ở trên đấy và sau đó người ta đem thiêu, đem thiêu rồi nhìn các vết nứt mà đoán định cắt hung. Tức là dựa vào à cái việc sau khi quá trình nung ấy thì tạo thành vết nứt mà tạo nên các cái người ta sẽ đoán được xem cần làm cái gì.
(21:36) Và xem những cái nội dung trên đó thì người ta sau khi xem xung thì người ta có thể bôi cái mực chu sa mực đỏ ấy lên trên đấy để cho hình thành nhìn cái nét cho nó rõ hoặc là cũng có thể bút viết lên nhưng người ta không hề khắc. dựa vào những cái dấu vết vết nứt ở trên mai rùa đấy mà người ta đoán định được là câu trả lời như thế nào.
(21:57) Cho nên sau này người ta bắt đầu dùng chính cái à dùng chính cái mai rùa đấy để người ta khắc lên là những cái hình tượng mà người ta mô tả về thiên nhiên. Cho nên mới có cái chữ gọi là chữ giáp cốt là dùng trên mai rùa hoặc dùng ở trên xương bả vai con bò. Thế mà chúng ta biết là vào cái thời cái đối với cái việc mà dùng ở trên a trên mai rùa ấy thì thực ra mãi đến thế kỷ thứ 18 19 chúng ta khai quật ra thì mới thấy nhiều cái cái mảnh xương đó.
(22:40) Còn trước đó cái thời mà ông Hứa Thận viết ra cuốn thuyết văn giải tự thì đa phần đã tạo nên hình thành một cái tiêu chuẩn rồi và ông dùng vào cái dùng cái chữ tiểu triện để ông lấy đó làm cái tiêu chuẩn. Cho nên từ cái gốc gác ban đầu không còn biết nữa. Chính vì cái gốc gác ban đầu không còn biết cho nên có một số chữ ông hứa thận là lúc mà chú giải thì có thể là chú giải bị nhầm vì cái hình tượng nó đã biến đổi theo thời gian đã khác đi so với à cái ban đầu.
(23:16) Cho nên là trong một số khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều cái mảnh à cái mảnh xương. Thì ở trong này à thầy cũng dẫn chứng cho chúng ta chúng ta có thể đọc thêm. Thì đây chúng ta có thể biết là từ cái à cái mảnh xương đó à sẽ tạo ra rất nhiều bắt đầu chúng ta cũng có thể khẳng định được là chữ viết bắt đầu là bằng như vậy.
(23:46) Ví dụ như là ở trên cái mai con mai rùa ấy, giáp cốt ấy, người xưa nhìn thấy khắc cái hình như thế này. Đây là hình chữ vạn. Chúng ta thấy ở đây giống hình con bỏ cảm. Thì học đến chữ vạn chúng ta sẽ học sâu hơn. Thì chữ vạn ở đây là gì? Người xưa nhìn thấy con bò cạp thì hình tượng con bò cạp nhìn thấy chứ con bò cạp này, con bò cạp này là khi sinh nở ấy, nó sinh con ra xong con của nó sẽ bò nhung nhúc ở trên lưng ấy.
(24:24) Thế nhìn vào con bò cạp này người ta thấy những cái gì mà liên quan đến nhiều nhung nhúc thì người ta dùng thành con bò cạp. Và sau này con bò cạp này thì đọc là vạn. Cho nên chữ vạn sau này được dùng để miêu tả cái gì mà rất nhiều vô số gọi là vạn thì mới dùng thành chữ vạn này. Đây là hình tượng mà khắc trên giáp cốt văn.
(24:53) Cho nên là khắc trên giáp cốt là người ta đều mô tả đa phần là từ hình tượng tự nhiên. Mà trên giáp cốt ấy thì thường là rất là cứng. Cho nên khi mà chúng ta nhìn thấy nếu mà tra cứu ấy, chúng ta thấy trên giáp cốt đa phần là hình nó rất là vuông vắn. Bởi vì cứng quá không thể vẽ hình là thật đẹp được. Ví dụ như vẽ hình mặt trời, đáng lẽ mặt trời là phải hình tròn như thế này.
(25:17) Ở giữa có vò quang chẳng hạn. Nhưng người xưa cái mặt trời này không thể vẽ được tròn như thế này cho nên mới vẽ thành như thế này, khắc như thế này, vuông như thế này, hình như này thì đây là thành chữ nhật tức là mặt trời. Đó, đây là cái chữ mà khác giắp gốt văn để chúng ta à nhìn thấy rõ. Thì đây là nói qua một chút về quá trình hình thành là trừ từ chữ giáp cốt văn.
(25:42) Cho nên khi chúng ta học chữ đặc biệt ở trong cái môn Hán tự nhập môn này là chúng ta sẽ được à học từ những chữ giáp cốt văn. Mỗi chữ đều có sự hình thành của nó. chữ giáp cốt văn như thế nào, trải qua thời kỳ biến đổi của nó ra sao, đến cuối cùng đến chữ hiện nay chúng ta dùng như thế nào thì chúng ta biết được rõ nguộn ngành ngọn ngành cái hình thành của chữ viết là chúng ta dùng hiện nay.
(26:16) Như thế thì chúng ta học chúng ta sẽ không bị quên nhìn chữ là biết thông qua hình rồi. Đây là nói về chữ giáp cốt văn. Tiếp theo chúng ta nói về à các yếu tố của chữ Hán. Bắt đầu vào các yếu tố chữ Hán này à rất là hay. Chúng ta học à chữ Hán thì bắt đầu chúng ta vào à các yếu tố à nó rất là rõ ràng. Yếu tố của chữ Hán gồm ba yếu tố lớn.
(27:02) Một là hình, hai là âm, 3 là nghĩa. Chúng ta phải nhớ chữ Hán thì bao gồm ba yếu tố này. một chữ hình của nó viết như thế nào, âm của nó đọc như thế nào, nghĩa của nó diễn giải như thế nào. Ví dụ như lúc nãy chúng ta viết chữ đơn giản nhất à à ví chữ đầu tiên chúng ta học đạ ví dụ chữ vạn chẳng hạn đúng không? Ví dụ như là hình thì chúng ta trải qua rất nhiều thời gian đến khi đến cái thời điểm của chúng ta thì viết thành thể khải tư thì viết như thế này.
(27:55) Đây là chúng ta phải viết hình ở cái dạng thể khải thư. Thế cái từ thể giáp cốt văn thì nó viết như thế nào? Viết như thế này. Đây giáp cốt văn hình đó. Đây là hình âm là gì? Đối với âm thì ví dụ chúng ta đọc là chữ này là chữ vạn. Âm này là phụ thuộc vào cái ngữ căn của mỗi khu vực khác nhau.
(28:26) Ví dụ như là người Trung Quốc có thể đọc cái này là one còn chúng ta đọc là vạn. Có khi người một nước khác đọc lại khác nữa. Cho nên về âm là phụ thuộc với nghĩa thì lại không thay đổi. Nghĩa thì chữ vạn này à có ý nghĩa là như thế nào? Hình thành của nó ban đầu là gì? Là thể hiện cái gì? À thể hiện con bỏ cạp là tượng hình con bò cạp.
(28:49) Thì nghĩa của nó thể hiện nó là số nhiều là rất là nhiều. Và bên trong nghĩa nó còn rất nhiều nghĩa khác trải qua nhiều thời gian người ta dùng thì lần lượt có các nghĩa khác nhau như vậy. Thì đối với chữ Hán chúng ta học chúng ta phải nhớ được ba yếu tố này hình, âm và nghĩa. Tối thiểu đối với cái người sơ học chúng ta khi bắt đầu học thì chúng ta cũng phải viết được cái chữ ở dạng thể khải thư.
(29:16) Thì khi bắt đầu trước khi bước vào phần viết chữ thì Việt sẽ cùng với đồng học chúng ta học cách viết như thế nào, bắt đầu từ những nét cơ bản ra sao. Chúng ta đều phải học. Học chữ trong chữ Hán thì đặc biệt viết thể khải thư đều có quy tắc của nó. Tất cả chữ viết đều phải nằm trong một ô vuông. Tuy viết thư pháp có rất nhiều à cách viết khác nhau nhưng mà nó không nằm ra ngoài quy cục.
(29:51) Có nghĩa là nó cái chữ chính nó vẫn nằm trong ô vuông này. Viết gì thì viết. Mỗi chữ đều có thể hiện ở trong cái ô vuông này. Cho nên khi chúng ta nhìn chữ Hán ấy là sắp xếp chữ rất đều đặn, đều đặn đều đặn ở trên cái quyển sách của chúng ta viết rất đều đặn. Nhưng mà chữ bằng Latinh ấy thì rất khó, không thể viết đều đạn được.
(30:13) Cho nên là chữ thì chúng ta học thế này. Và mỗi chữ thì cấu tạo từ những nét cơ bản. Cho nên các đồng học mà chưa từng tiếp xúc với chữ Hán, chưa từng học chữ Hán thì chúng ta phải học từ những cái nét cơ bản này. Bắt đầu từ nét chủ chấm. Nét chấm phải viết như thế nào, cầm bút ra sao, lực phải đi thế nào? Ấy, nét sổ thì phải biết ra sao, nét ngang thì phải đi ở mức độ như thế nào, độ nghiêng làm sao cho phù hợp, rồi là nét móc, nét má, những cái nét đó chúng ta đều có video mẫu để cho các đồng học chúng ta tập theo à khi chúng ta viết. Phần này chúng ta sẽ nói hơn về
(30:52) phần sau. Tiếp tục chúng ta nói về các yếu tố của chữ Hán. Thứ nhất là nói về phương tiện hình của chữ, chúng ta gọi là tự hình. Thế về phương diện hình của chữ thì chúng ta biết được là mỗi chữ thì đều có cái hình của nó. Hình đó được hình thành như thế nào? Ở phương diện hình của chữ, trong này thầy viết trong các chữ sơ khai của bất kỳ dân tộc nào đều là tiến hóa từ hình vẽ.
(31:28) À chúng ta thấy ở trong các hang động mà khai quật ra ấy đa phần là mô tả hình vẽ. Nên ranh giới giữa hình vẽ và chữ sơ khai được phân định như thế nào? À chúng ta phải nhớ nhá. Hình vẽ và chữ là khác nhau. Đối với hình vẽ thì hình dáng nó giống như vật thật. Ví dụ như là vẽ một con hươu thì người ta vẽ ra hình một con hươu thật.
(31:53) Vẽ cái mặt trời thì người ta vẽ ra mặt trời thật. Ví dụ như thế và đồng thời tuân theo cái tỉ lệ kích thước của vật thật. Còn chữ sơ khai khi viết chữ thì đa phần dùng nét để phác họa đường viền của Phật thật. Ví dụ như chúng ta nhìn thấy chữ vạn ở trên bảng là mô tả mô phỏng hình con bò cạp.
(32:18) Đây chỉ là chữ để là mô phỏng cái hình tạng thôi. Còn nếu như mà là hình vẽ thì người ta phải vẽ rất là rõ ràng cái con bò cạp này như nó như thế nào và hình dạng nó ra sao và kích thước của nó phải có sự tương quan nhất định đối với vật thật. Đó gọi là hình vẽ. Khác nhau giữa hình và chữ là khác nhau như thế. Đối với hình vẽ thì người ta sẽ không dùng ngôn ngữ để không dùng ngôn ngữ xác định để đọc ra.
(32:45) Còn đối với chữ sơ khai khi mà chữ được tạo ra thì người ta sẽ có ước định âm đọc theo tập quán. Ví dụ như là à chúng ta à vẽ một vẽ hình mặt trời đúng không? Vẽ hình mặt trời ở đây. Ví dụ người xưa vẽ hình như thế này là mô tả mặt trời trên giác cốt văn đó. Trong tiếng Việt chúng ta nhìn thấy à ví dụ mặt trời thì chúng ta đọc là trời hoặc là mặt trời đúng không? Đây là nói về cách đọc của chúng ta.
(33:24) Còn theo tập quán ví dụ người Trung Quốc khi đọc thì người ta có thể đọc là r là mặt trời đấy gọi là Nhật. Đấy chúng ta đọc là Nhật còn người Trung Quốc đọc là đó là theo cái tập quán của người ta. Cho nên đấy là thuộc về cái hình vẽ của chữ khác nhau như thế nào. Ở đây thầy nói tiếp là ý nghĩa của hình vẽ không hoàn toàn nằm ở hình mà còn nằm ở bên ngoài của hình thể.
(33:56) Cho nên là họ cần phải dùng ký ức hoặc tưởng tượng để bổ sung. Còn đối với chữ sơ khai ấy thì lại dùng có thể dùng tổ hợp thành hình thức câu từ để biểu đạt ý nghĩa hoàn chỉnh. Ví dụ một chữ vạn người ta vẽ một con bò cạp thì người ta phải tưởng tượng là con bò cạp này nó phải có càng này, nó phải có thân này, nó phải có đuôi này, có nọc độc này.
(34:25) Trong đầu người ta phải có một cái ức ký ức gì đấy về con bò cạp thì người ta mới tưởng tượng ra đây là con bò cạp. Còn ví dụ như khi nói chữ vạn, dùng chữ vạn thì người ta đã mô tả ở trong nó có nghĩa rồi thì có thể dùng thành một cái chữ vạn người ta có thể à viết thành một cái một câu chẳng hạn là người ta có thể nói là thậm chí có thể dùng lâu ngày trả tháng ta dùng như là thiên sơn vạn thủy.
(34:50) Thiên sơn vạn thủy có nghĩa là mây núi trùng điệp. Đấy là muôn trùng sông núi đấy. Gọi là muôn trùng sông núi thì gọi là thiên sơn vạn thủy. Ví dụ như thế là người ta dùng ở ngay ở trong câu từ là có cái chữ rồi. Còn đối với hình vẽ thì nó đã độc lập cho nên không phân biệt ra. Thì chúng ta phân biệt được đây nó lại gọi là hình của chữ.
(35:10) Thứ hai là nói về âm của chữ. Âm của chữ thì chúng ta biết là bất kỳ một cái dân tộc nào trước khi có chữ viết là đều có ngôn ngữ trước. Chữ viết thì đều nó không phải là chúng ta biết nó không tự nhiên mà xuất hiện ra, cũng không phải tự nhiên nhảy từ khe đá ra. Ban đầu người xưa đi chúng ta biết ngày xưa đi săn ấy, người xưa đi thời đại ra thời đại săn bắn cái ngôn ngữ giao tiếp với nhau đôi khi chỉ có mấy từ thôi.
(35:40) U áo ú ớ thôi. Nó không nhiều và không không đa dạng như bây giờ. Ví dụ thậm chí chúng ta cách đây vài trăm năm làm gì có chữ pedan. Pedan xe đạp nó bây giờ có chữ pedan xe đạp tức là nó đã phong phú hơn rất là nhiều rồi. Ngày xưa làm gì có cái chữ internet, bây giờ có cái chữ internet.
(36:00) Ngày trước cũng không không có chữ điện thoại, bây giờ có chữ điện thoại vân vân nó rất là nhiều thời gian đã trải qua nhiều thời gian khác nhau mà hình thành ngôn ngữ. Nên cho nên thời nguyên thủy ấy là người ta dựa vào những cái phát âm từ trong miệng. Phát âm đó dựa vào đâu? dựa vào môi này, dựa vào lưỡi này, dựa vào hầu họng này mà phát ra những cái âm thanh nó sơ khai lắm.
(36:27) Âm thanh sơ khai và trong âm thanh đó dần dần nó kết hợp thêm cả những cái thanh thanh sắc nữa mà tạo thành tạo thành cái ngôn ngữ của từng dân tộc một, từng khu vực một. Nên ngay ở trong Việt Nam chúng ta ấy, chúng ta biết là mỗi tỉnh, mỗi vùng cái âm vực nó khác nhau rồi. Có khi ngôn ngữ cũng đó cũng có thể khác nhau.
(36:50) Ví dụ như chúng ta nói ở đây, chúng ta nói là cái này là cái gì đó. Nếu mà nói tiếng Nghệ An gọi là cầy ni là cầy chi. Đó. Nghe thì người Hà Nội nghe thì nó sẽ không thì nghe sẽ không hiểu. Thậm chí mới nghe thì nghe nó rất là lạ. Nhưng mà đấy là cái âm giọng của địa phương tạo ra theo thời gian khác nhau như thế. Cho nên là từ ban đầu ấy cái âm này chúng ta sẽ lấy cái hình tượng của trẻ nhỏ.
(37:21) Ở trong sách thầy lấy hình tượng trẻ nhỏ để phát âm. Ví dụ như là đứa trẻ mà bắt đầu sinh ra ấy, bắt đầu có chữ o oe đa phần là khóc là oe oe hay là oa oa đấy thì người ta lấy âm đấy là bắt đầu âm từ hầu họng mà phát ra là những âm thanh đầu tiên hay là những tiếng khóc tiếng cười của trẻ thì bắt đầu lấy từ những cái tiếng đấy để mà hình thành nên những cái phân biệt về cái ngữ âm.
(37:52) Cho nên âm thanh từ hầu hầu hậu, từ hầu họng ấy bắt đầu đi qua thanh quản, dần dần nó sẽ đi qua môi, qua răng nó tạo nên rất là nhiều. Ví dụ như là khi mà trẻ bắt đầu biết giao tiếp đúng không ạ? Chúng ta thấy hầu như các quốc gia đều có gì? À khi trẻ bắt đầu biết cử động cái phần môi, cái âm thanh phát ra hầu họng ngoài cái tiếng khóc ban đầu người là người ta xem đó là tiếng khóc hoặc tiếng kêu của trẻ thôi.
(38:20) Nhưng mà khi âm thanh phát ban đầu mà có thể dùng môi ấy là cái âm thanh giao tiếp với người mẹ. Ví dụ như là ma là âm hai cái môi thất vào nhau. Mẹ má, mạ. À các dân tộc khác nhau tuy có một chút khác nhau nhưng mà đều là từ cái miệng mà phát ra cả. Khó hơn một chút là gì? Pa ba bố. Thì tất cả cái này đều là phát ra từ cái hai cái môi mà kết hợp với nhau.
(38:52) Cho nên từ đây người ta những cái chữ này à đứa trẻ đầu tiên nói ma thì chắc chắn gần gũi nhất là giao tiếp người mẹ thì người ta định nghĩa đây là gọi mẹ. Tiếp theo là pa ba như thế thì gọi là bố vân vân. từng bước từng bước thấy người ta lại quy định cùng quy định với nhau đó là một cái cái chữ viết để một cái âm để mà bắt đầu gọi thì đây là gọi là phát triển của cái âm theo từng thời gian từng thời gian một và cứ trải qua quá trình như thế nó không ngừng lưu động từ âm biến thành chữ từ chữ lại biến thành âm kết
(39:27) hợp với nhau kết hợp với à hầu họng kết hợp môi, kết hợp với lưỡi nên tạo thành nhiều cái âm khác nhau cũng giống như chúng ta sẽ nhìn Nhìn ví dụ như là người xưa mà đi săn đấy. Ví dụ như là người xưa đi săn mà người xưa gặp phải còn hổ đúng không? Bây giờ chúng ta hổ chứ người xưa gọi là gì? Ngày xưa nhìn thấy con hổ ta người ta về ta ví dụ nhìn thấy con hổ rất là sợ.
(39:56) Xong rồi người ta về nói với người dân làng là gì? Hổ hổ hộ. Đấy từ những từ đấy hộ hộ hộ. Ngày xưa gọi là chữ họa. Đấy, chữ họa chính là từ cái chữ này nhìn con hổ là nói về gặp tai họa đến nơi rồi. Thế chữ họa bắt đầu từ chữ họa mà người ta nói là con hổ. Nhưng sau đấy là gì? Gặp một con a ví dụ người ta đi gặp con gì ta không biết.
(40:23) Tôi này gặp một con họa, gặp con họa. Họa tức là giống như chữ tai họa bây giờ ấy thì mọi người mới giật mình. Thì theo thời gian ấy thì có một số dân tộc sau khi chuyển sang ví dụ như viết chữ họa xong ví dụ chữ họa viết như thế này. Chữ họa viết như thế này. Đây là viết thể khải thư. Đây là chữ họa thể chữ a tiểu triện thì nó ở cái dạng như thế này.
(40:56) À đây phải viết chính xác theo đồng học chúng ta nhìn cho nó rõ. Đây là ở dạng chữ ừ tiểu triện. Ở trên này chính xác là nó phải thêm cái móc này nữa. Đó. Thì đây là chữ họa. Họa này thực ra là gì? Ban đầu ấy cái chữ này gọi là chữ hình thanh. Ban đầu đáng lẽ là cái này là phải là dùng chữ hổ mới đúng. Lâu dần ấy người ta dùng cái âm này là âm oa.
(41:39) Âm oa kết hợp với chữ chữ thị. Thị là nói về cái gì nó rất là huyền bí, rất đáng sợ liên quan đến thần thần linh huyền bí ấ thì người ta dùng chữ thị. Cho nên viết ra chữ họa này. Chữ họa này chứ thực ra chữ họa ban đầu viết ấy là phải có dùng chữ hổ kèm vào chữ thị này. Bởi vì con người ta gặp ở trên núi là con hổ thì mới đây nó là con họa.
(42:02) Con họa thì đến khi mà đến một nơi khác thì người ta đọc là hổ. Nhưng mà cũng có rất nhiều nơi ở vùng Trung Quốc bây giờ vẫn đọc chữ hổ là chữ họa. Ví dụ như tiếng Mân Nam thầy có nói tiếng Mân Nam đọc tứ họa. Cho nên là những cái chữ này ấy là đều là những cái chữ mà à tạo ra trong quá trình mà người ta bắt đầu người ta gặp vấn đề chẳng hạn trong đời sống thì bắt đầu tạo ra chữ.
(42:32) Gặp con hổ thì tượng hình con hổ. Tượng hình con hổ xong, tượng hình con hổ xong thì người ta biết đó con hổ rồi. Lên trên núi gặp phải hổ tức là gặp phải họa. Gặp họa tức là đáng sợ thì người ta dùng thêm một cái bộ đường trước nữa là bộ thị là nói về những thứ thần bí đáng sợ lắm.
(42:56) Thì người ta mới đặt tên đó là chữ họa. Và sau này chữ họa sinh ra từ đấy kết hợp với bộ thị và chữ hổ. Còn chữ họa sau này chúng ta dùng là đã mượn rồi, đã giả tá rồi, đã mượn cái bỏ đi chữ hộ và mượn chữ oa. Mượn chữ oa để thay thế vào đấy. Nên sau này chúng ta học chúng ta sẽ thấy đó là thuộc về à chữ đi mượn là khác nhau rất là nhiều.
(43:19) Cho nên là chữ phát triển nó có rất nhiều qua rất nhiều thời gian. Đây chữ gặp chữ hổ. Con hổ kêu rất là to đúng không? Chúng ta thấy con hổ kêu rất là to. hồ là nó bắt đầu thầm hầu họng. Cho nên khi mà nói cái gì con hổ rất là to lớn, rất đáng sợ ấy thì người ta nói bắt từ hầu họng nó như thế là khiến cho người khác nhìn thấy cũng đáng sợ.
(43:40) Còn khi miêu tả những cái chữ mà nó nói về nhỏ ấy thì người ta lại dùng cái từ cái âm răng của mình người ta phát hiện ra là ví dụ như là những cái chữ mà phát hiện ra từ răng ấy, ví dụ hai cái răng màíu lại với nhau này chi ti chi. Đấy là hai nếu mà răng mà qua cái âm răng ấy nó rất là nhỏ.
(44:01) Thì cho dù chúng ta dùng cái lực mạnh đến mấy nó vẫn cứ nhỏ. Cho nên sau này những cái gì mà liên quan đến nhỏ thì người ta dùng cái âm chi trúng hay đọc tờ đấy. Tờ ấy những cái chữ là rất là nhỏ. À những đối với chúng ta đang nói về nhỏ này là gì? là từ cái việc là người những người có âm từ ngày xưa người ta thông qua quá trình mà à thông qua quá trình phát âm mà tạo ra chữ viết như vậy.
(44:33) Cho nên những cái chữ mà phát âm như thế ví dụ chúng ta nghe những chữ mà như chữ chữ tế đúng không? Chữ tế tức là nó rất là nhỏ vi tế. Đấy, chữ tế trong chữ vi tế viết như thế này. Chúng ta lại xóa chữ này đi. Chữ tế phải không? Tế đây. Cái chữ này đọc là tế. Tế là đọc từ âm răng tế. Tế thực ra rất là nhỏ chứ nó tế.
(45:09) Như tế là tỉ mỉ ấy là rất nhỏ bé. Hai chữ tiểu ha. Tiểu. Tiểu là cũng là gì? Cũng là đọc từ âm răng mà ra. Tiểu rất là nhỏ. Có nghĩa người ta dùng sau này những cái âm mà phát ra từ răng là những cái gì mô tả nó nhỏ bé thì người ta phát từ âm răng ra thì người ta ghi những cái gì mô mô phỏng những cái đấy là nhỏ bé. Đấy.
(45:37) Hay là chúng ta thấy những cái chữ mà phát ra từ âm lưỡi chẳng hạn như lưỡi lưỡi uốn lưỡi lên ấ uốn lưỡi lên ấ chúng ta thấy không? Ví dụ như là người xưa tạo ra chữ luân. Luân luân có nghĩa là à trật tự, có nghĩa là vòng tròn. Đấ thì người xưa tạo ra một chữ luân. luân. Ví dụ như chữ luân là như thế này. Chữ luân thì được tạo từ được kết hợp từ hai chữ.
(46:14) Thứ nhất là chữ tập là viết như thế này. Đây là chữ tập. Thứ hai là chữ sách. Tập và sách tạo thành chữ luân. Cái này viết dài một chút để học nhìn rõ ha. Đấy. Luân đây là chữ luân. Luân là thể hiện cái gì? Chữ luân là kết hợp giữa chữ tập và chữ sách. Tập nghĩa là tập hợp lại với nhau. Ngày xưa chữ tập là tập hợp lại với nhau.
(46:56) À ngày xưa ấy sách ấy thì là viết những chữ sách viết như thế này. Đây là chữ sách. Sách ngày xưa là dùng sách là bằng gì? Sách là làm bằng à thẻ tre. Thực ra chữ này viết chữ sách là viết như thế này mọi người nhìn mới rõ. Kéo dài cái này ra thì mới rõ cái dây dây sâu của nó. Sách ngày xưa làm bằng thẻ tre và các thẻ tre này sâu lại với nhau thành chữ sách.
(47:23) Thế cái chữ gốc ban đầu ấy, chữ sách là ban đầu viết như thế này. Đó là viết như thế này là thể hiện là gì? Thể hiện đây là à cuốn sách nó sâu với nhau. Chính xác là để viết lại chữ này vẽ cho chính xác. Đây là các cuốn sách đúng không? Các cuốn sách sâu lại với nhau thành hình như thế này. Thì đây là chữ sách là chữ ngày xưa là viết như thế là các cái chữ sâu lại với nhau thành chữ sách.
(48:01) từng mảnh tre ghép lại với nhau. Thế thì tập hợp các cuốn sách lại với nhau, các thẻ tre ngày xưa ấy mà nếu mà không để cẩn thận, không để cẩn thận thì nó sẽ lộn xộn rất là nhiều, rất lộn xộn và rất là khó đọc. Cho nên người xưa dùng chữ luân là để nói về những cái chữ mà à nói về những cái việc là nó phải có một cái thứ tự, nó phải có một cái điệu lý, tức là nó không bị dối thì người ta dùng cái tập hợp quyển sách này để mô tả thành một chữ luân.
(48:37) Luân luân khi chúng ta đọc chữ luân thì chúng ta thấy cái vòm lưỡi của chúng ta luân đấy. Cái lưỡi rất là tròn. lưỡi rất là tròn cho nên nó cũng là mô tả khi mà đọc chữ luân cũng mô tả cái gì đấy nó liên quan đến tròn hoặc liên quan đến một cách có à có trật tự thì dùng chữ luân. Thế thì từ chữ luân này người ta mô tả ví dụ như là nói về cái xe chẳng hạn, bánh xe chẳng hạn.
(49:04) Luân chúng ta hay gọi luân sa đấy là bánh xe. Vậy luân sa thì viết thế nào? Cũng là một chữ luân này thêm cái gì nữa? thêm chữ xa phía trước nữa thì đây thành chữ luân là của bánh xe. Luân của bánh xe. Thì cái luân của bánh xe này chúng ta nhìn thấy xin lỗi cái chữ luân của bánh xe này đúng không? Chúng ta nhìn thấy ở trên này và như thế này. Đây là cái bánh xe.
(49:39) Bánh xe thì sao? Bánh xe thì chọn. Luân cũng là đọc bánh xe. Cho nên là từ cái chữ luân này nó mới tạo ra rất nhiều các chữ khác. Những cái gì mà liên quan đến vòng tròn thì sau này đều là nói về à chữ luân. Chúng ta thấy ấ đều là dùng cái âm luân này để tạo ra. Cho nên cái âm này nó mô phỏng rất là hay. Mô phỏng đế luân bánh xe.
(50:13) Còn ví dụ như trong a chúng ta thấy chữ luân trong vòng trầm luân ấy thì lại có thêm là một chữ thủy nữa chẳng hạn. thì nó luôn nói về cái vòng tròn ở trên nước. Chữ luân là thay bộ sa bằng bộ thủy phía trước hay là chữ luân ở trong ngũ luân thì là cũng là chữ luân này. Bây giờ chúng ta nhìn nhá. Cũng là chữ luân này.
(50:40) Nếu mà thêm bộ nhân ở phía trước, nhân phía trước thì ở luân ở trong ngũ luân. Có nghĩa con người sống với nhau thì phải có luân thường đạo lý. Con người sống với nhau phải có bổn phận trật tự. Người nào có cái bổn phận người đó thì gọi là luân. Cái luân này chính là như thế.
(51:02) Cho nên mỗi chữ khi tạo ra nó đều có cái nghĩa đi kèm. Nó rất là hay. Chúng ta hiểu như vậy. Đang nói về cái phần âm của chữ rất là hay phải không ạ? Cho nên âm của chữ ấy thì khi tạo ra chữ thì âm có thể mô phỏng trực tiếp từ âm thanh của vật. À ví dụ như là à tiếng con bò giống chẳng hạn thì người ta dùng tiếng à tiếng mâu với con bò giống là mù.
(51:31) Và ví dụ như thế là người ta dùng chữ mâu để người ta mô tả con bò giống. hay là à tiếng hổ kêu là người ta th hoa hồ chẳng hạn thì người ta dùng chữ how để người ta mô tả viết chữ hổ thêm một cái bộ khẩu phía trước nữa là tiếng hổ gầm là ví dụ như là âm có thể mô tả trực tiếp âm thanh của vật hay là mô tả trực tiếp hình dạng của của vật ví dụ như là nói về sông chẳng hạn xuyên chữ xuyên Chữ xuyên thì viết như thế nào? Chữ xuyên thầy viết như thế này.
(52:15) Đây là hình dạng của dòng sông. Hình dạng của dòng sông nó cũng là cái mô tả cái hình dạng của dòng sông là như thế. Đây là chữ xuyên. À chữ xuyên ngày xưa gọi là nước chảy xuyên suốt. Ấ xuyên suốt. Nước chảy xuyên suốt nên là chữ sông ngày xưa đọc là chữ xuyên. Sông đọc là xuyên. Xuyên là xuyên suốt cũng là xuyên suốt.
(52:44) Cho nên là những cái chữ mà liên quan đế chữ xuyên suốt ấy thì có đồng âm với chữ xuyên này đều có thể dùng được. Đã là sông ấy thì phải chạy từ thượng nguồn xuyên suốt xuống tận hạ nguồn. Cho nên sau này những cái gì mà xuyên suốt ấy thì lại dùng chữ xuyên để làm âm cho nó. Đấy, đó là phát triển thông qua âm của chữ.
(53:04) À tiếp theo là nói về âm mô phỏng vật. Âm mô phỏng vật ví dụ như là à nói về chữ hộ chẳng hạn à hộ gia đình đúng không? Hộ gia đình tức là gì? gia đình tức là nơi bảo hộ người khác. Cho nên khi viết một cái chữ hộ thì người ta phải thể hiện phải dùng cái âm ví dụ như dùng âm chữ hộ hộ của chữ bảo hộ để người ta miêu tả chữ hộ gia đình để mục đích là để người ta mô phỏng nghĩa của của cái vật đấy.
(53:41) Thì đây là cái cách của người xưa chúng ta sẽ lần lượt chúng ta học ở trong cái phần chữ. Cho nên tất cả đều có căn cứ. Chữ viết tạo ra đều có căn cứ của nó. Nó không phải tự nhiên mà tạo ra. Nên người xưa từng bước từng bước một như vậy mà tạo ra chữ viết của mình. Đến phần thứ ba chúng ta gọi là nghĩa của chữ hình rồi âm và nghĩa.
(54:05) Đây là có quá trình chúng ta tạo ra chữ thì có hình, có âm có nghĩa. Về phương vi diện nghĩa của chữ ấy thì phương thức biểu đạt nghĩa của chữ Hán đồng thời ở đây nói là trên hai phương diện. Một mặt là sử dụng hình của chữ để biểu đạt nghĩa của chữ, một mặt lại dùng âm của chữ để biểu diễn, để biểu thị nghĩa của chữ.
(54:27) Ví dụ như trong các cái chữ sơ văn của chúng ta ấy đang chúng ta sẽ học ví dụ chữ nhật viết như thế này là mặt trời. Mặt trời thì đồng thời lấy gì? Lấy hình để mà biểu thị hay là xuyên chữ sông của chúng ta ngày xưa viết là như thế nào? Ngày xưa viết như thế này. Đó và chữa ra giữa vòng dòng sông như thế này là ngày xưa là viết thành cái chữ mô tả đúng cái dòng sông như thế này nên đọc là chữ xuyên.
(54:58) đồng thời lấy cái hình đó để biểu tạ biểu tượng biểu thị cái nghĩa của chữ. Đây chính là à nghĩa của chữ. Và các chữ ấy sau khi được tạo ra à kết hợp à để làm ví dụ thì có thể dùng cái hình dạng để mà tạo thêm một cái nghĩa mới. Ví dụ như là chúng ta nói lúc nãy nói chữ chữ mà phát ra trừ chữ răng chẳng hạn là những chữ mà nói về chữ nhỏ.
(55:22) Ví dụ như là người ta dùng cái chữ tiên là nói về những thứ nhỏ bé. Chữ tiên. Tiên là hai chữ qua này tạo ra. Đây là chữ tiên đúng không? Tiên đó. Tiên tờ tờ à tiên đúng không ạ? Nh chữ tiên. Tứ tiên này ví dụ như nếu như mà chúng ta đặt nó khi mà mô tả à về mô tả về nước cạn chẳng hạn thì người ta thêm chữ bộ thủy phía trước thành chữ này thành chữ gì? Thành chữ thiển.
(56:06) Đây là chữ thiển. Thiển của chữ thiển cận đấy. Thiển có nghĩa là nước cạn. Đây là chữ thiển. Thế thì cũng là cái chữ này. Nước cạn thì sao ạ? Nước cạn thì nó nhỏ. Đây là dùng nghĩa của nó để mà tạo ra chữ chữ mới. Nước cạn thì đương nhiên là nó thuộc về nhỏ rồi. Hay là chúng ta thấy một cái chữ nữa là gì? Cũng là từ chữ thiển này à chúng ta thường rất hay gặp là chúng ta ví dụ như chữ chữ tiện chẳng hạn.
(56:39) Chữ tiện là cùng tứ chữ thiển này thêm cái thêm bộ bối ở giữa bối bối ở trước. Bối ở trước ngày xưa ấy thì dùng bối. Bối tức là vỏ sò. Ngày xưa dùng vỏ sò để làm công cụ à làm tiền bạc, tiền tệ với nhau. Khi mà tiện này là gì? Tiện có nghĩa là hà tiện. Trong chữ hà tiện đấy. Tiện này có nghĩa là gì? có nghĩa là à à gọi là hà tiện tức là mình nghèo đi ấy, bần tiện đấy. Nghèo đi.
(57:21) Ấ khi mà của cải mà chúng ta cho đi thì đương nhiên là chúng ta phải nghèo đi. Của cải mà chia ra nhỏ đi thì phải nghèo đi. Nghèo đi thì nó là nghĩa của nhỏ. Nghèo đi là nghĩa của nhỏ. Cho nên đây chữ chữ chữ này ấy là chúng ta thấy đây chữ tiên là cũng có đọc là cũng có nghĩa đọc là cũng có âm đọc là tàn nhá.
(57:43) Chữ tiên này tàn ở trong cái chữ gọi là cái tàn sót lại ấy. Thế thì một cái chữ nữa chúng ta hay gặp là gì? Tiền. Tiền đúng không? Người xưa tiền thì từ bộ kim tạo ra chữ tiền. Đấy. Kim với tiên thành tiền. Tiền là gì? Tiền là khi mà chia nhỏ vàng ra, dùng vàng đó để làm công cụ giao thương thì gọi là tiền. Nhưng mà nghĩa còn chữ tiền còn nghĩa rất là hay.
(58:17) Nghĩa là gì? Ở đây chúng ta nhìn thấy chữ tiền này có hai chữ hai bộ qua, có hai con đao ấy, hai cái giáo ấy. Tiền này khi mà tạo ra chữ này người xưa và nó kết hợp rất nhiều nghĩa để tạo ra chữ tiền này. Con người ấy vì tiền mà có thể đánh nhau. Đánh nhau rồi ấy thì còn lại sót bao nhiêu? Rất là nhỏ. Một khi dùng tiền rồi ấy, đã dùng đến tiền ấy thì tình cảm còn lại rất là ít.
(58:47) Những gì chúng ta còn lại rất là nhỏ bé. Cho nên là cũng đồng nghĩa với chữ tiên. Đồng nghĩa với chữ chữ tiên. Thế là cho nên trừ chữ tiên chữ tàn này tạo ra rất nhiều chữ khác nhau. Cho nên ở trong đây là nói về nghĩa của chữ. Thế thì chữ có thể tạo thành thông qua hình, thông qua cách vẽ hình, thông qua âm, thông qua cách phát âm cũng như là thông qua nghĩa nghĩa để tạo ra chữ mới.
(59:16) Cho nên chữ viết thông qua hình âm nghĩa mà tạo ra. Cho nên trong một chữ viết là có đầy đủ hình, có âm, có nghĩa để chúng ta hiểu được ba yếu tố hình âm nghĩa của một chữ là kết hợp với nhau cực kỳ chặt chẽ. Cho nên là kết luận lại hình âm nghĩa là ba yếu tố của chữ viết. Trên hình là đã ghi chép lại âm của chữ lại biểu đạt nghĩa của chữ.
(59:46) Trong âm thì mô phỏng hình của vật hoặc mô phỏng nghĩa của vật. Đấy, trong nghĩa thì lại vừa bắt nguồn từ hình của chữ lại vừa bắt nguồn từ âm của chữ. Cho nên chúng ta thấy ba yếu tố hình, âm, nghĩa của chữ kết hợp với nhau rất là chặt chẽ. Đ chúng ta hiểu đây là cái nguồn gốc, đây là ý nghĩa của chữ Hán.
(1:00:09) Hôm nay chúng ta à tạm thời học đến phần này. À buổi sau chúng ta sẽ học đến à đặc tính của chữ Hán. Đồng thời chúng ta sẽ bắt đầu à cùng nhau học cách bắt đầu viết chữ Hán như thế nào. À thì buổi sau chúng tiết sau chúng ta sẽ bắt đầu học phần này. Sau đó chúng ta sẽ cùng nhau bước vào lần lượt từng chữ một.
(1:00:33) Các đồng học sẽ phải chuẩn bị tinh thần. À đặc biệt là đối với việc học tập chúng ta sẽ phải chuẩn bị các công cụ để học tập. Thứ nhất là chúng ta phải chuẩn bị vở. Vở thì chúng ta nên dùng vở giấy ô à giấy học sinh ô ly tiểu học. Đấy trên đấy chia ô rất là rõ. Chúng ta có thể dùng ô đó để chúng ta viết chữ. Và chúng khi chúng ta viết chữ Hán mới bắt đầu thì chúng ta sẽ viết ô to không viết ô nhỏ.
(1:01:07) có nghĩa kết hợp nhiều ô lại với nhau, có thể ba ô, có thể bốn ô mà tốt nhất chúng ta phải viết chữ thật to thì cái cổ tay chúng ta lâu ngày chầy tháng nó mới luyện được thành cái nét chữ. Đồng thời chúng ta nên có bảng ở nhà tập viết bảng và khi viết bảng thì cũng phải viết chữ to như thế này thì cái cổ tay của mình ấ nó cũng sẽ quen viết như vậy.
(1:01:29) Một chữ muốn được hình thành, muốn viết được thông thạo thì chúng ta phải viết nhiều, đọc nhiều và chúng ta phải dùng liên kết. Đặc biệt là khi chúng ta học sơ văn, học những chữ cơ bản thì chúng ta phải liên kết với đời sống của chúng ta thì chúng ta mới nhớ được lâu. Đó là nói về bắt đầu viết chữ thì chúng ta phải chuẩn bị vở.
(1:01:51) Thứ hai là bút thì chúng ta sẽ dùng bút chì. Chúng ta nên dùng bút chì 8B, 7B hoặc 6B là tương đối rồi. Bởi vì sao? Những bút đó rất là mềm. mềm giúp cho chúng ta khi viết chữ thanh động chúng ta có thể điều nét được, lực viết chúng ta có thể tốt được. Mới bắt đầu viết chữ Hán, không nên viết bút bi, không nên viết bút mực, không nên viết những bút mà chỉ một nét mà nên viết bút chì để tập cho có thanh có đậm, tập cho nét bút được uyển chuyển.
(1:02:23) Sau này quen rồi thì chúng ta mới dùng những cái bút khác. Và đặc biệt là viết bút chì mới đầu viết sai rất là nhiều. Chúng ta có thể tẩy đi, viết lại, tập đi tập lại cho nó quen. Nếu mà dùng bút mực, bút bi thì viết chúng ta tẩy bút rất là khó. Đồng thời sẽ làm sai đi cái cách viết của chúng ta. Mà viết chữ càng đẹp thì học càng vui vẻ.
(1:02:44) Viết chữ mà không đẹp thì chúng ta học buồn lắm. Cho nên là chúng ta sẽ lần lượt là nhớ những đấy những cái yếu tố như thế. Và khi học tập thì Việt sẽ giới thiệu cho các đồng học về cái công cụ khác để chúng ta tra cứu. Chúng ta cũng sẽ có chữ mẫu chữ mẫu. À Việt cũng sẽ viết cho cái đồng học chữ mẫu.
(1:03:07) Đương nhiên là viết không đẹp à nhưng mà cũng sẽ tạo ra một cái chữ mẫu để đồng học ban đầu theo. Viết chữ thì phải có khuôn khổ, phải có bắt đầu từ những nét cơ bản và có khuôn khổ nó nằm trong cái ô vuông của mình. Đồng thời khi viết chữ thì phải có quy tắc bút thuận, phải viết nhiều thì mới thành thuận được.
(1:03:28) Lý thuyết thì chúng ta biết đọc rất là thuộc. Trước đây rất nhiều học chúng ta đọc rất là thuộc. À ngang trước, sổ sau, trái trước, phải sau, đọc rất là thuộc. Nhưng mà khi vào viết ấy là chúng ta luống cuống không biết viết nét nào trước, nét nào sau cả. Thế cho nên là thời gian đầu chúng ta viết vừa chúng ta vừa phải học thuộc về cái thứ tự nét bút thuận.
(1:03:49) Đồng thời chúng ta cũng phải tập viết nhiều thì chúng ta mới quen được. Thì buổi sau chúng ta sẽ học được học về các đặc tính của chữ Hán, đồng thời sẽ bắt đầu tập viết những nét cơ bản. Buổi học hôm nay chúng ta tạm dừng ở đây. Xin cảm ơn tất cả các đồng học đã lắng nghe. [âm nhạc] Yeah.