Học tập: HÁN TỰ NHẬP MÔN – Bài 1 – Lời nói đầu & Dẫn Luận | Thầy Hoàng Anh Việt chia sẻ – YouTube
https://www.youtube.com/watch?v=LhqA5lZA5GU
Transcript:
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả các bạn đồng học. Xin mời ngồi. Hôm nay a à bản thân a chúng ta à sẽ cùng nhau à bước vào học tập mà Hán tự nhập môn. Thì nói về Hán tự nhập môn thì thực ra về cái duyên khởi vì sao bản thân a chúng ta lại nghĩ ra cần phải thu hình cái bộ Hán Tự nhập môn này. À thứ nhất là hiện tại có một số các bạn đồng học chúng ta muốn học chữ Hán để
(01:06) chúng ta thâm nhập vào kinh điển. Thế nhưng mà học à chữ Hán như thế nào và phải bắt đầu từ đâu thì lại là à một câu hỏi rất nhiều người đang thắc mắc. Trên trong quá trình học tập thì bản thân à Việt đã à tìm thấy một số cái chìa khóa để chúng ta mở ra cái phần khó khăn này. À đó học về học chữ Hán. À thứ hai là việc học chữ Hán này là nhờ ơn rất lớn của ân sư à của Việt tức là Hòa thượng Tịnh Không.
(02:01) Ngài trong rất nhiều bài giảng, ngài cũng khích lệ các đồng học phải quay lại học tập chữ Hán để có thể thâm nhập được kinh điển. Và nhất là càng về những ngày cuối đời, ngài cũng dốc nhiều tâm sức để khuyên bảo các đồng học khắp nơi à cùng nhau quay về học tập. Thế nhưng mà bản thân a Việt ấy thì hiểu biết nó tương đối là nông cạn.
(02:36) À cho nên nhiều đồng học bảo là chia sẻ hay là dạy chữ Hán thì thực chất mình chưa đủ cái tư cách để mà mình đứng ra mình dạy. Cho nên ở đây chỉ gọi là chia sẻ về tâm đắc học tập. chia sẻ về những gì mình hiểu biết cho các đồng học để hy vọng là với những cái tâm đắc này sẽ có người có duyên sẽ cùng nhau học tập và sau đó chúng ta cùng nhau thâm nhập vào kinh điển.
(03:15) À bước vào học tập chữ Hán thì Hòa thượng Tịnh Không ngày trước có yêu cầu thầy tức là giáo sư Lâu Khắc Hùng có biên soạn một cái bộ gọi là Hán tự nhập môn. Chính là cái bộ sách này. Chúng ta nhìn thấy cái tiêu đề sách. Đây là đề bút của chính tay Hòa thượng Tĩnh Không đề. À sau khi cuốn sách này được hoàn thành thì ngài đích thân ngài làm đề sách để cho mọi người có thêm niềm tin và động lực học tập.
(03:56) Cho nên chúng ta học tập mà cái bộ này cũng là rất là hay. Bản thân trước đây Việt thì cũng giống như rất nhiều bạn học chữ Hán hay là chúng ta học tiếng Trung thì chúng ta bắt đầu phát khởi học tập từ 214 bộ. 214 bộ chữ Hán chúng ta gọi là 214 bộ thủ. À đây chính là 214 bộ à để giúp chúng ta tra cứu các từ điển à một cách chính xác và dễ dàng.
(04:32) à gọi là từ điển giấy. Trước đây các từ điển đều phân theo 214 bộ thủ này. À với mỗi bộ thủ khi viết ra thì bao gồm bộ thủ là gì, số nét của nó là bao nhiêu, từ đó giúp chúng ta tra cứu được à nghĩa của từng chữ một. À thế nhưng mà khi học tập thì sau này gặp được cái cuốn Hán tự nhập môn này ấ thì mới thấy là thực sự là chúng ta có một cánh cánh cửa khác chúng ta đi vào bằng từ cái căn bản.
(05:14) Cho nên là Hán tự nhập môn này, cái cuốn sách này ấy là cuốn sách do thầy Lưu Khắc Hùng à biên soạn. Thầy cũng kể là thầy dành mất thời gian 2 năm, hơn 2 năm thầy đóng cửa để thầy biên soạn ra cuốn sách này. Và thầy cũng là một người rất có tiếng trong việc giảng dạy văn tự học nên chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng học tập.
(05:44) Nhất là cuốn này được hòa thượng Tĩnh Không, một bậc đại đức một đời. Số lượng đệ tử mà theo học với ngài thì rất là lớn, chúng ta đều biết. À ngài khuyến hóa chúng ta à có thể bắt tay từ đây để chúng ta học. À cho nên là chúng ta tin tưởng đi theo con đường này. Đây là bước đầu giúp chúng ta à bước vào con đường Hán học. Thế nhưng mà cái mục tiêu lớn nhất trong quá trình học Hán học của chúng ta ấy là cuối cùng làm sao chúng ta có thể à giống như ở trong à phần Tam Tự Quy nói với chúng ta là à thâm nhập kinh tạng trí tuệ Như Hải nếu mà có thể thâm nhập được kinh điển
(06:34) thì trí tuệ của mình có thể mở ra mênh mông như biển lớn và đặc biệt biệt là có thể khai mở được cái tự tánh vốn sẵn có của chúng ta. Khi chúng ta học tập thì cái cuốn Hán Tự Nhật Môn này cũng là dành cho rất nhiều đối tượng. Rất nhiều đối tượng. À thầy Lưu Khắc Hùng biên soạn cái cuốn Hán Tự Nhập Môn này là dành cho người Trung Quốc.
(07:08) Người Trung Quốc thì người ta có lợi thế hơn chúng ta là người ta biết về chữ rồi. Cho nên là khi mà à biên soạn ra cuốn này thì đương nhiên thầy không để ý đến cái việc chúng ta biết viết hay không. Nhưng mà khóa học của chúng ta ấy cùng nhau chia sẻ là dành cho rất nhiều bạn đồng học.
(07:33) Có những bạn đồng học mà chưa bao giờ tiếp cận với chữ Hán cả nhưng mà rất thích chữ Hán. Thế thì phải bắt tay như thế nào? Thì chúng ta thông qua cái quyển này chúng ta cũng bắt đầu à thâm nhập hiểu được căn bản à về chữ Hán, cũng có thể nắm bắt được quá trình hình thành chữ biến đổi của các thời kỳ như thế nào.
(07:57) Rồi chúng ta cũng có thể bắt đầu biết viết từng nét cơ bản. Từ những nét cơ bản đấy, chúng ta tổ hợp thành chữ Hán như thế nào thì chúng ta cũng sẽ thông qua quá trình học tập này cùng nhau chia sẻ, cùng nhau học tập. Thì đối với những người mà chúng ta biết được một chút rồi thì chúng ta lại đi từ cái căn bản hiểu được cái quá trình hình thành của cái chữ Hán như thế nào.
(08:29) Chúng ta biết được chữ Hán, biết được hình của nó là hình dạng như thế nào, cách viết ra sao. Dần dần à chúng ta tra cứu chúng ta sẽ biết được âm của nó tức là cách đọc như thế nào rồi là nghĩa của nó tức là cách dùng cái chữ này ra sao thì chúng ta cũng thông qua đấy chúng ta học tập. Ít nhất đối với các đồng học chúng ta mới học thì chúng ta cũng sẽ học được thể chữ khải thư.
(09:04) Như hiện nay chúng ta đang thấy, chúng ta đang viết, đang dùng đấy là chúng ta gọi là thể chữ khải thư. Việc này lát nữa vào buổi học chúng ta sẽ cùng chia sẻ về các cái thể chữ và đặc biệt là sau khi kết thúc được Hán tự nhập môn thì các đồng học có thể chủ động học được kinh điển. Nói như rất nhiều bậc thầy ở trong ngành Hán học nói ấy là chúng ta xóa được mù chữ.
(09:32) Tức là chúng ta đã có thể chủ động được gặp bất kỳ một chữ Hán nào, chúng ta cũng có thể biết cách tra cứu và chúng ta à có thể dần dần hiểu được nghĩa của kinh. Từ đó chúng ta học tập. Nên từ bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau học tập và thông qua cuốn sách này. Xin mời quý đồng học chúng ta mở sách Hán tự nhập môn.
(10:01) Chúng ta phải học tập Hán tự, chúng ta cần phải nhập môn như thế nào. À trong cái môn học này là chúng ta cùng nhau bàn luận. Thế thì à chúng ta nhập môn như thế nào? À mời à các đồng học chúng ta mở sách, chúng ta mở phần mục lục. À phần mục lục thì ít nhất là để chúng ta biết được khai quát về cái quyển sách mà chúng ta đang học, chúng ta đang cùng nhau chia sẻ.
(10:39) Và xuyên suốt cả quá trình chia sẻ này, Việt sẽ sử dụng cuốn sách này để cùng chia sẻ với các đồng học. Chúng ta xem phần mục lục. Thì phần mục lục để chúng ta biết được là cuốn sách này sẽ trình bày những phần nào. À phần một là cái lời nói đầu. Lời nói đầu là cái phần của thầy Lưc Khắc Hùng à thầy viết để cho chúng ta hiểu rõ về cuốn sách.
(11:10) Phần thứ hai là thông bạch của dịch giả. Thì khi bản thân Việt dịch ra cái bộ sách này thì cũng có một đôi lời thông bạch dẫn luận một chút để cho các đồng học thêm niềm tin vào những cái lời dạy của Hòa thượng Tịnh Không. Phần thứ ba là phần dẫn luận, tức là nêu về lịch sử hình thành của chữ viết. Cái gì cũng phải có bắt đầu.
(11:40) khởi động như thế nào? Chữ viết chúng ta biết là nó không phải là từ khe đá mà nhảy ra, không phải đột nhiên từ trên trời rơi xuống. Tất cả đều phải có một quá trình hình thành. Cho nên cái phần dẫn luận này hay là gọi tự luận đấy là cái phần chúng ta sẽ hiểu về hình thành của chữ viết. Phần thứ tư là lục thư và các ví dụ thì chúng ta sẽ học à cụ thể các chữ viết căn bản nhất của chữ Hán để bước vào nhập môn.
(12:18) Thì chữ Hán là lục thư chính là sáu cái cách để tạo ra chữ Hán. Ở đây chúng ta lần lượt sẽ học có chữ tượng hình. chữ chỉ sự, chữ hội ý, chữ hình thanh, chữ chuyển chú và chữ giả tá. Cái phần thứ năm là lược nói về thanh vận. Đây là cái phần à nói về cho chúng ta cách hình thành cái thanh vận như thế nào và sử dụng ra làm sao.
(12:56) Phần thứ sáu là 21 điều lệ của tiên sinh Quý Cương, tức là tiên sinh hào Hoàng Quý Cương. Ông Hoàng Quý Cương, ngài Hoàng Quý Cương là thầy của tác giả, thầy giáo của tác giả, là thầy của thầy Lưu Khắc Hùng đấy. Của giáo sư Lưu Khắc Hùng. À thực ra giáo sư Lưu Khắc Hùng lúc biên soạn cái bộ này vào năm 2015 thì ngài cũng tương đối tuổi cũng tương đối cao rồi.
(13:29) Bao nhiêu kinh nghiệm học tập thì ngài cũng đưa vào trong này. À ngài dạy học được hơn 40 năm thì chúng ta thấy cũng là cái để chúng ta đáng để chúng ta học tập. Cái phần thứ bảy là bảng ghi âm đọc của 540 bộ thủ trong thuyết văn giải tự. Thì sau khi chúng ta học về những cái chữ sơ văn, tức là những chữ mà căn bản nhất của chữ Hán thì từ đó chúng ta sẽ học tiếp là 540 bộ thủ.
(14:04) Đây là 540 bộ thủ của thuyết văn giải tự và 540 bộ này à cũng là cái nền tảng cơ bản để chúng ta sau này tra cứu thuyết văn giải tự. Trong Tam tự kinh cũng dạy chúng ta là à lúc đi học chữ ấy thì học con chữ biết con số. Nhìn thấy chữ thì phải mở thuyết văn. Đấy, nhìn thấy chữ thì mở thuyết văn. Vì sao phải mở thuyết văn? Vì thuyết văn giải tự là cái từ điển đầu tiên cũng là giải thích tương đối nhiều ngọn ngành về cái nguồn gốc và cái nghĩa ban đầu của chữ.
(14:40) Hiện nay chữ Hán chúng ta sử dụng được mượn khá nhiều và sai đi cái nghĩa gốc ban đầu khá nhiều. Cho nên chúng ta hiểu được cái nghĩa gốc thì chúng ta sẽ có cái hiểu sâu hơn về kinh điển. Bởi vì kinh điển là được viết từ à mấy nghìn năm trước. Cho nên chúng ta cũng cần phải hiểu mấy nghìn năm trước thì tổ tiên của chúng ta những người đi trước người ta hiểu về chữ này như thế nào thì như thế từ đó chúng ta mới hiểu được cái căn căn bản kinh điển.
(15:12) Cho nên tra cứu thuyết văn là cũng là một cái nội dung ở trong quá trình chúng ta học tập. Chúng ta cũng tập tra cứu thuyết văn giải tự thì cái cuốn trên tay của Việt Cầm đây là cuốn thuyết văn giải tự. Chính xác đây là thuyết văn giải tự chú, tức là cuốn này là cuốn chú giải của à tiên sinh Đoàn Ngọc Tài. Thì chúng ta sẽ cùng nhau học tập thông qua cái cuốn sách như thế này.
(15:47) Xin mời các đồng học mở trang tiếp theo Hán Tự nhập môn. Cái cuốn Hán Tự nhập môn này là do giáo sư Lưu Khắc Hùng soạn. Ở trong cái tài liệu trong cái phần những dòng đầu tiên thì Việt có để lại cái đường dẫn của tài liệu gốc. Nếu đồng học nào có thể đọc được chữ Hán, đọc được tiếng Trung thì chúng ta nên đọc thẳng cái cuốn này.
(16:20) Bởi vì thông qua người dịch thì chắc chắn ít nhiều. ý nghĩa đó nó sai khác đi khá nhiều vì bản thân Việt biết cái trình độ của mình cũng không phải là giỏi cho nên chẳng qua là mình làm liều một phen, mình dịch cái cuốn này thứ nhất là để cho mình học, thứ hai là có những đồng học có duyên thì chúng ta học tập thì hy vọng là các đồng học sau khi học xong thì giống người xưa nói là thanh a xuất ư lam, thắng ư lam.
(16:58) Tức là người màu xanh thì xuất từ màu lam nhưng mà phải đẹp hơn màu lam. Các huynh đệ sau khi học tập rồi ấy, mọi người giỏi lên sẽ tìm ra được nhiều lỗi sai và có thể dịch lại được cái bộ này. Hoặc là biết đâu đó chúng ta sẽ gặp được một cái bậc à rất giỏi về chữ Hán sẽ dịch lại toàn bộ cái bộ này cho chúng ta học tập một cách nghiêm chỉnh.
(17:22) Thì hy vọng các đồng học sau khi chúng ta học tập bộ này nếu mà thấy cái chỗ nào sai thì cũng gửi lại để cho Việt lý lại à cũng như học tập trở lại. À đặc biệt ở trong cái phần dịch của chúng ta về nguyên tắc thì không dịch phần văn ngôn nhưng mà Việt vẫn mạn phép dịch một chút để chúng ta đặc biệt là những người mới nhập môn chúng ta hiểu qua một chút về ý nghĩa của từng cái câu trích dẫn trong kinh điển để chúng ta học tập.
(17:57) Thì đây là cái phần về tác giả cũng như là về à đối với cái quyển sách này. Chúng ta đọc phần đầu tiên. Lời nói đầu của tác giả giáo sư Lưu Khắc Hùng. Văn hóa truyền thống 5000 năm phải dựa vào ghi chép bằng văn tự thì mới có thể một mạch tương truyền. Muốn truyền thừa văn hóa truyền thống cần phải nhận biết chính xác về văn tự, sau đó mới có thể hiểu và đọc kinh điển chính xác. Đây là đoạn đầu tiên.
(18:36) Thầy đánh số số 1. Chúng ta phải hiểu là cái này à các đồng học chúng ta phải có một cái nhận thức rõ ràng. Kinh điển của chúng ta ấy, những gì mà chúng ta học ngày nay ở trong đấy nói những gì. Ví dụ như kinh điển thời xưa à chúng ta nhìn vào những kinh điển Tứ Thư Ngũ Kinh, chúng ta có biết là Khổng Tử nói gì hay không? Chúng ta có biết là Mạnh Tử nói gì hay không? Nếu như mà chúng ta không biết về chữ Hán thì làm sao mà chúng ta biết được? Bây giờ chúng ta cầm một cuốn sách, chúng ta đọc rất là thông suốt.
(19:28) Ví dụ như là chúng ta cầm cuốn sách đệ tử quy, chúng ta đọc phép người con thánh nhân dạy. Thì cái ví dụ như là phép người con thánh nhân dạy là gì? Đây là cái phần đã được dịch ra nghĩa rồi. Nhưng mà thời xưa khi mà soạn cái bộ này thì tiên sinh Lý Dục Tú viết như thế nào? đệ tử quy thánh nhân huấn. Nếu mà dịch giải ra từng chữ từng nghĩa trong đó, chúng ta không biết đọc thì chúng ta không thể hiểu được hết ý nghĩa ở trong này.
(20:03) Cho nên là các đồng học chúng ta phải có một cái chung một nhận thức. Đó là gì? Văn tự là dùng để ghi chép lại văn hóa truyền thống, dùng để ghi chép lại trí tuệ. của tổ tiên. Cho nên ấy cần phải nhận thức được văn tự thì chúng ta mới có thể hiểu được chính xác về kinh điển. Nên ở phía sau cái phần à lời thông bạch của dịch giả ấy, bản thân Việt có lấy lại lời của hòa thượng Tĩnh Không, ngài có nói là gì? Chúng ta muốn kế thừa văn hóa truyền thống, trước hết phải nhận thức được nó, phải nghiên cứu, phải học tập nó. Hơn
(20:55) nữa, điều quan trọng nhất là văn ngôn văn. Văn ngôn văn là phải học tập. Thì chúng ta thấy xưa ấ thì tất cả văn tự, tất cả kinh điển à từ Nho, nhà Nho, nhà Phật, nhà đạo đều dùng cái văn văn ngôn văn này để viết. Và văn, ngôn văn để viết thì đều là kết cấu dựa trên chữ Hán. Cho nên là chúng ta cùng có chung nhận thức là chữ Hán là điều cần thiết, chắc chắn là phải học.
(21:29) Không học thì không được. Không học thì không cách nào chúng ta nhận thức được kinh điển một cách chính xác cả. Thời xưa ấy ở Việt Nam chúng ta đều dùng chữ Hán làm cái văn tự chính thức. Cho nên khái niệm dịch kinh từ thời xưa không có. Những người đi học đều có thể đọc được kinh điển, đều có thể đọc được chữ Hán.
(21:59) Cho nên là khi đọc chữ Hán, người đi học đều có thể hiểu được ý nghĩa của nó. Đến sau này khi chữ Hán dần dần mất đi thì chúng ta à mới phải nghĩ đến dịch kinh. Cho nên ở đây chúng ta phải biết là người xưa dùng chữ Hán để truyền tải, để dùng để tải đạo, dùng để truyền tải nội dung ở trong đó thì chúng ta phải học.
(22:29) Chúng ta đọc đoạn tiếp theo. Hiện nay mặc dù chữ Hán phát triển lên đến hơn 50.000 nghìn chữ nhìn thì trông có vẻ là một số lượng lớn rất đáng sợ. Nhưng thông qua thống kê của tiên sinh Trương Thái Viêm, những chữ ban đầu sớm nhất tức là sơ văn chỉ có không đến 500 chữ. Chỉ cần nhận biết được hơn 400 chữ ban đầu này, học cách dùng những chữ ban đầu này, tức là phương pháp tổ hợp thành hội ý hình thanh thì có thể nắm bắt được cương lĩnh, không khó để nhận biết được tất cả văn tự.
(23:13) Chúng ta đọc đến chỗ này chúng ta thấy an ủi đúng không ạ? Bây giờ chúng ta mở sách ra à nhìn hoa mắt. Mở kinh điển ra chúng ta nhìn hoa hết cả mắt. Đặc biệt là như hiện nay chữ Hán rất là nhiều. Như thầy nói chúng ta là chữ Hán có đến năm vạn chữ. Chúng ta tra từ điển, cuốn từ điển thì rất dày, làm sao học thuộc hết được. Thế nhưng mà chúng ta nếu chúng ta không học nhập môn ấy thì chúng ta sẽ không biết được là các chữ này được hình thành như thế nào.
(23:51) Học nhập môn thì chúng ta sẽ hiểu hiểu được là bản chất là gì. Thống kê ban đầu ấy là chữ Hán thời kỳ đầu ấy nó chỉ có dưới 500 chữ thôi. 500 chữ này người xưa gọi là sơ văn. Sơ tức là ban đầu gọi là sơ văn. Cho nên là chúng ta chỉ cần học được đúng, hiểu đúng 500 chữ sơ văn này chưa đến 500 chữ. Và đặc biệt là chúng ta biết cách dùng để kết hợp các cái chữ sơ văn này thành chữ hội ý à thành chữ hình thanh thì hình thành nên rất nhiều chữ mới.
(24:42) Kể cả chữ Hán lẫn chữ nôm của chúng ta đều tuân theo quy tắc này. Cho nên chữ nôm của các cụ ngày xưa ấy chúng ta thoạt nhìn ấy, đặc biệt là những người học bây giờ ấy nhìn thấy chữ nôm sau nhiều nét như thế. Chữ Hán đã nhiều nét rồi, mọi người rất sợ nhìn nhiều nét này khó học. sang đến chữ nôm còn nhiều nét hơn nữa.
(25:09) Nhưng mà nếu mọi người hiểu được cái cách hình thành ban đầu này ấy thì chúng ta sẽ thấy rất đơn giản. Những chữ nôm chúng ta nhìn qua chúng ta thoạt chúng ta có thể đoán được chữ này đọc như thế nào, viết như thế nào. Bởi vì nó có đều theo nguyên tắc hội ý, hình thanh hoặc là giả tá truyền chú.
(25:32) Thế nhưng mà đa phần là sẽ là dùng hội ý và hình thanh là nhiều. Cho nên là đối với người Trung Quốc ấy thì hiện nay có hơn năm vạn chữ. À đối với chữ nôm chúng ta ấy thì thực ra chúng ta cũng không nhiều lắm đâu. Ngày xưa lúc mà Việt bắt đầu học chữ nôm ấy thì thống kê lại thì thấy người đi trước thống kê ấ chữ nôm kể cả những chữ thường dùng, chữ Hán thường dùng ở trong đời sống chúng ta ấy cũng chỉ khoảng tầm 7000 chữ.
(26:03) 7000 chữ thôi. Cho nên tất cả những gì chúng ta nói hoàn toàn có thể biểu đạt được bằng văn tự, bằng chữ nôm. Cho nên ở trong cái phần lời thông bạch thì phải có nói là bản thân trước đây của chúng ta ấy đều dùng chữ Hán này. Sau này ấy chúng ta mới thấy là những bậc tiền nhân đi trước có những người rất là vĩ đại, ví dụ như Hồ Hồ Chủ tịch, ví dụ những người đi trước đều là những người mà thông qua nền tảng giáo dục của văn hóa truyền thống.
(26:41) Tức là nói về đến ba nhà Nho Thích Đạo, Nhà Nho, nhà Phật, nhà Đạo. Nhờ cái sự kết hợp đấy mới tạo nên những bậc anh hùng lỗi lạc như vậy. Cho nên là vì sao những cái người đấy có thể trở thành những cái bậc anh hùng? Vì sao người ta được gọi anh hùng? Vì tấm lòng của những người này đều là tấm lòng trung quân, ái quốc, đều là những tấm lòng vì nước, vì dân.
(27:10) Vì tất cả chúng sinh mà phục vụ. Chúng ta thấy tất cả tấm gương đi trước đều là những người có đức tính như thế. Những thức đức tính đó là được hình thành từ đâu? Chính là được hun đúc thông qua việc học tập kinh điển. Cho nên chúng ta thấy thời nay chúng ta không được học chữ nôm nữa, không được học chữ Hán nữa, cho nên cơ hội được hôn đúc này ngày càng giảm đi rất là nhiều.
(27:38) Nên hy vọng là đồng học chúng ta khi học tập thì chúng ta thấy cái vai trò của chữ Hán, của chữ Nôm vô cùng quan trọng. Thế thì việc học tập của chúng ta ấy không đơn thuần chỉ là học chữ mà chúng ta phải nhìn thấy đây còn là một cái sứ mệnh. Gánh vác được cái sứ mệnh này, hy vọng chúng ta thắp lại cái ngọn lửa nó còn nhen nhóm.
(28:08) vẫn còn ở đâu đó còn nhen nhóm hy vọng có thể thổi bùng lại trong tương lai. Có thể trong 50 100 năm nữa ngọn lửa này không tắt thì nó sẽ vẫn cứ tiếp tục truyền thì chúng ta lấy cái niềm tin chúng ta học tập. Cho nên chúng ta thấy chữ này rất là quan trọng nhưng mà không khó học. Không khó, rất đơn giản.
(28:34) Đấy, biết cách kết hợp thì à chúng ta thấy đơn giản thôi. Nên là đừng có sợ chữ Hán đồ sộ quá nhiều chữ không học được thì chúng ta cảm thấy lo lắng. Nên cứ giữ một cái tâm trạng thoải mái. Chúng ta học tập chữ Hán thì sẽ cảm thấy rất vui. À học xong cái nhập môn này thì đi gặp bất kỳ chữ nào chúng ta cũng giống như trí tuệ mở ra vậy. À chúng ta sẽ thấy rất hay.
(29:03) đến buổi bắt đầu chia sẻ vần chữ thì sẽ chia sẻ đồng học cái phần này rất là tuyệt vời. Đoạn tiếp theo thầy nói, “Hơn 40 năm trước, tôi từng ở trường Đại học Đông Ngô giảng dạy văn tự học thanh vận học, 3 năm trước lại vâng lệnh lão pháp sư Tịnh Không đến Trung tâm giáo dục Văn hóa Trung Hoa ở Malaysia cùng với lớp bồi dưỡng giáo viên quốc học Bắc Kinh, giảng dạy về văn tự học, chia sẻ sơ lược về tâm đắc làm sao để dẫn dắt các đồng học, học và các học trò học tập chữ Hán một cách vui vui vẻ.
(29:42) Thì đây là thầy đang kể về cái quá trình học tập và cũng vâng mệnh của lời hòa thượng Tĩnh Không. [âm nhạc] Cho nên là tất cả những gì chúng ta học đều là theo con đường mà Hòa thượng Tịnh Không đang chỉ ra. Chúng ta cứ yên tâm chúng ta học. Đây là chính đang nghe lời thầy, nghe lời thật làm. Từ cái chỗ này chúng ta bắt tay, chúng ta học thì sẽ dần dần chúng ta thâm nhập được vào chữ Hán.
(30:12) Đoạn cuối thầy nói ở trên thị trường tôi không tìm thấy một bản giáo trình văn tự học nào thích hợp với hàng sơ học mà lại chính xác không có sai lầm. Cuốn sách này là dựa vào bản thảo giảng dạy của tôi trước đây và những ghi chép của tôi khi còn học với thầy của tôi là tiên sinh Lâm Cảnh Y cùng với các tài liệu như Trung Quốc văn tự khái thuyết do thầy Lâm Cảnh Y soạn.
(30:39) dành thời gian mấy năm để soạn thành một bộ giáo trình nhập môn hiến tặng cho những thầy cô đang học tập và phát tâm truyền thừa văn hóa truyền thống cùng với các bạn yêu thích về văn tự học. Hy vọng nhờ cuốn sách này các bạn có thể nhận thức được căn bản đối với chữ Hán, sau đó tiến thêm một bước để nghiên cứu thuyết văn dần dần thâm nhập vào văn hóa truyền thống.
(31:06) Chúng ta thấy về à thầy ở đây đoạn này thầy nói với chúng ta về văn tự học. Văn tự học nếu chúng ta hiểu nghĩa rộng thì nó sẽ gồm ở ba cái phương diện là có hình, có âm và có nghĩa. Ba cái mấu chốt à của chúng ta học tập là có hình, có âm và có nghĩa. Thì đối với trong quá trình học tập văn tự học thì chính là gì? Chúng ta biết hình là để xem cái chữ này viết như thế nào, âm của chữ đọc ra sao và nghĩa là gì.
(32:00) Chẳng qua là ba cái phương diện này về phương diện dạy học thì nếu mà các đồng học nào chúng ta nghiên cứu sâu về văn tự học thì chúng ta sẽ thấy chia thành ba cái môn khác nhau. Nhìn thế này thôi lại chia ba môn khác nhau. Cái môn thứ nhất thì gọi là cái môn huấn hỗ học hay là huấn cổ. Huấn hỗ học thì là thiên về cái nghĩa.
(32:26) Nếu mà cái phần nào mà những cũng là cái về cái chữ này nhưng mà lại phần giải thích nhiều về nghĩa thì gọi là cái môn học về huấn hỗ học. Cái môn nào mà thiên về âm thì người ta là cái môn học gọi là thanh vận học. Thanh vận học là môn học thiên về âm và môn học là thiên về à về chữ về hình ấy thì người ta gọi là văn tự học.
(32:58) Tách ra như thế. Văn tự học thì nó thiên về hình, còn thanh vận học thì thiên về âm. Còn huấn hỗ học hay huấn cổ học ấy thì thiên về nghĩa. Nhưng mà về nguyên tắc thì chúng ta biết là về văn tự hay thanh vận hay là về huấn hỗ nó là ba cái kiềng. Nó là kiềng ba chân. Nó không thể tách rời nhau. Nhưng chẳng qua là thuận tiện cho việc dạy học thì người ta phân thành ba môn.
(33:32) Nếu được học nào học về Hán Nôm, học về văn tự học ấy thì chắc là sẽ học ba cái môn này. À nó tách ra về học về chi tiết. Nhưng mà chúng ta phải hiểu như thế. Thế thì à trong quá trình học tập thì chúng ta nhớ cái bộ sách quan trọng nhất là cái bộ khi chúng ta học văn tự ấy thì bộ quan trọng nhất mà thường được à ngay cả Hòa thượng Tịnh Không cũng như là rất nhiều học giả khi mà chia sẻ thì nói với chúng ta quan trọng bậc nhất chính là cái cuốn thuyết văn giải tự.
(34:09) Khuyết văn giải tự như này. Đây là cái cuốn thuyết văn giải tự. Đây là thầy cái cuốn này là Việt thỉnh về đúng như cái cuốn mà thầy Lưu Khắc Hùng yêu cầu đồng học chúng ta học tập. Đây là cuốn thuyết văn giải tự chú do Đoàn Ngọc Tài à ghi chú thêm. Tức là ngoài những cái phần gốc của Hứa Thận viết ra thì do đoàn Ngọc Tài chú ghi chú vào đấy thêm nữa để thêm chi tiết.
(34:41) Cái cuốn này rất là nặng. Đây chúng ta thấy ạ. Rất là nặng. Nhìn là rất là khủng khiếp. Mở ra. Đặc biệt đồng học nào chúng ta mới tiếp cận chúng ta mở ra cuốn này chúng ta thấy trong này chi chít chữ là chữ nhìn hoa cả mắt nhưng mà chúng ta đừng có sợ. Sau này chúng ta học tập biết cách tra cứu thì chúng ta thấy nó cũng đơn giản thôi.
(35:03) Cũng giống như chúng ta học tiếng Anh nhìn thấy cuốn từ điển à à tiếng Anh của chúng ta rất dày đúng không ạ? giày cộp như thế này nhưng thực ra nó để dùng để tra cứu mà thôi. Cái cốn này cũng là như vậy. Không phải để chúng ta học hàng ngày nên chúng ta đừng có sợ. Đến đâu cha cứu đến đấy. Đọc đến kinh điển lâu ngày trầy tháng chúng ta tự nhiên cái chữ đấy nó trở thành ở trong tâm của chúng ta thì chúng ta tự nhiên sẽ học được.
(35:30) Cho nên đây là cái cuốn thuyết văn mà thầy nói à chúng ta khi học thuyết văn thì sau này Việt sẽ chia sẻ thêm về cách mà thầy Lưu Khắc Hùng thầy học về thuyết văn. Thầy dùng cách rất hay như người xưa học là dùng mỗi lần trà cứu là khoanh với chấm vào cái chữ đấy qua nhiều lần như thế ít nhất là biết được cái chữ đấy mình khoanh chấm được khoảng năm sáu lần thì tự nhiên chữ đấy mình sẽ hiểu rất là sâu.
(36:02) Nên cái chỗ này phần sau sẽ chia sẻ với đồng học nếu mà có điều kiện. Thế thì đây là cái phần liên quan đến văn tự học. Còn nếu mà nói xét về thanh vận học thì cái này lại tùy thuộc vào ngôn ngữ của từng nước. Với Trung Quốc thì lại là thanh vận riêng, với Việt Nam thì thanh vận riêng. Bởi vì âm đọc của người Việt và người Trung Quốc khác nhau, chỉ là trung chữ mà thôi. Nhưng âm đọc sẽ có phần khác nhau.
(36:36) Đối với người Trung Quốc thì người ta dùng cái sách Quảng Vận để mà học về thanh vận học. Còn Việt Nam thì bản thân Việt hiện tại vẫn có lẽ là sở học của mình chưa đủ nên vẫn chưa tìm thấy cái về thanh vận học liên quan đến chữ chữ Hán, chữ Nôm. Bởi vì có lẽ là cũng thất truyền cũng đã lâu rồi cho nên là việc học tập cũng đã cũng có nhiều một số cái hạn chế.
(37:01) Còn cái sách mà nghiên cứu về nghĩa thì người xưa cái sách này thì mình học được nghiên cứu về nghĩa thì người xưa dùng cái sách gọi sách nhĩ nhã. Nhĩ nhã sách nhĩ nhã nhĩ có nghĩa là gần. Chữ nhĩ có nghĩa là gần. Chữ nhĩ mà cấu tạo trong cái chữ di của chữ di đà đấy. Nhĩ và chữ nhã. Đấy, chữ nhã. Nhĩ nhã.
(37:35) Nhĩ là gần còn nhã nghĩa là đúng. Có nghĩa là sách nhĩ nhã là để tra cứu nghĩa gần đúng. Không ai dám khẳng định nghĩa này là chúng chính xác cả. Nên chỉ dùng nhĩ nhã để ghi một chữ là gần đúng. Đế sách nhĩ nhã là để cho chúng ta học về văn tự, về nghĩa. À thế nhưng mà thực sự để học được ba cái cuốn này, thuyết văn giải tự này, quảng vận này hay là nhĩ nhã thì chúng ta không đủ năng lực để học ngay.
(38:06) Cho nên rất là hay ở chỗ là gì? Chúng ta học cái cuốn Hán tự nhập môn này, thầy Lưu Khắc Hùng thầy tổng hợp vào đây rất đầy đủ, rất đầy đủ. lúc nào cần trích nhĩ nhã thì thầy trích nhĩ nhã thì chúng ta sẽ học được chính xác cái phần này. Trong cái phần à tiếp theo, phần lời thông bạch ấy thì Việt có trích lại lời của hòa thượng Tịnh Không khi ngài giảng các bộ kinh.
(38:36) Ngài cũng khuyến khích chúng ta học tập về chữ Hán. Và ngài có một cái điều như này ở trong này rất dài cho nên các đồng học chúng ta tự đọc ở trong đấy. À Việt có một đánh giấu một đoạn như thế này. Ngài nói một điều khiến chúng ta có thêm niềm tin. Ngài nói, “Tôi có lý do để tin tưởng tương lai người, cả thế giới đều sẽ học văn ngôn văn.
(39:03) ” Vì sao vậy? Họ học được văn ngôn văn thì những bảo tạng này họ có thể thọ dụng. Họ có thể có được văn ngôn văn là chìa khóa. Đó là chìa khóa của tứ khố toàn thư. Bạn không có, bạn không biết những thứ này thì có đưa sách cho bạn cũng vô dụng, bạn không biết đọc. Cái này ngài nói một đoạn như thế này nữa để chúng ta biết là chúng ta đây là đang học đại văn hóa truyền thống của mình.
(39:33) Tôi có niềm tin này bởi vì quá khứ đã từng 200 năm trước không xem là xa. Ngôn ngữ xung quanh châu Á chính là văn ngôn văn. Cho nên chúng ta đi ra nước ngoài, ngôn ngữ tuy không thông nhưng viết chữ thì thông. Chúng ta gọi là bút đàm. Viết chữ thì đều biết ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, ở Nam Dương đều được, họ đều học.
(40:03) Cho nên văn ngôn văn là ngôn ngữ chung cả trong và ngoài nước. Học được cái này trong bảo tạng của chúng ta à có trí tuệ vô lượng, trí tuệ phương pháp, kinh nghiệm của tổ tiên đều ở trong đó. Bạn học được rồi. Đây là lời của hòa thượng nói chúng ta để chúng ta biết là xưa là chúng ta đều dùng văn ngôn văn.
(40:26) Thế chúng ta mới thắc mắc tại sao mà mọi người ở cách xa thế đi xứ nước ngoài không biết ngôn ngữ mà vẫn có thể đi xứ được. Thậm chí làm trạng nguyên của nước ngoài, trạng nguyên của Trung Quốc. Việt Nam chúng ta có rất nhiều trạng nguyên đúng không ạ? Lưỡng quốc trạng nguyên cũng có, lưỡng quốc công thần cũng có. Vì sao vậy? Chưa hẳn là chúng ta hiểu được cái tiếng của họ đâu.
(40:51) Nhưng mà nhờ bút đàm, khi chúng ta viết văn thì đều là dùng văn ngôn. Thế thì mọi người đều học như nhau, đều viết như nhau. Viết mấy chữ là mọi người tự thông hiểu rồi. Đấy là những người có học thời xưa mà giao lưu với nhau là dùng cách đấy. Cho nên là chúng ta thấy chúng ta à học tập với này là chúng ta có thể mở lại cả khó tàn.
(41:11) Cho nên bây giờ chúng ta nhìn thấy à chúng ta bây giờ đứng trước đền chùa miếu mạo của Việt Nam chúng ta ấy, chúng ta thấy đều là viết bằng chữ Hán cả. Thế thì bản thân chúng ta không biết chữ Hán ấy, những cái di sản của tổ tiên chúng ta để lại thì chúng ta nhìn nó cứ ngẩn tò te không biết cái gì cả. Thực sự tổ tiên chúng ta nhìn vào đây chúng ta thấy đáng thương.
(41:41) Người Pháp người ta bước vào đây người ta muốn đô hộ chúng ta ấy thì người ta phải có cách người ta phải dần dần đưa cái cái chữ viết của người ta để phiên âm chữ viết của mình phiên âm lời nói của mình để người ta có thể thông thạo được dần dần lâu ngày trầy tháng ấy họ đồng hóa chúng ta thấy thuận tiện thấy chữ quốc ngữ thuận tiện thấy chữ dùng la tinh thuận tiện thế là dần dần chúng ta bỏ đ bỏ đi chữ nôm bỏ bỏ đến chữ Hán đến bây giờ chúng ta cái nghĩa gốc không biết là gì. Ví dụ gọi tên là Thắng không biết
(42:16) nghĩa Thắng là gì. Đấy, gọi tên là Thảo không biết nghĩa nó là gì thì à chúng ta cũng không chúng ta thấy rất là là là đáng thương đúng không ạ? Con cháu chúng ta rất đáng thương. Người xưa đặt tên cho con cái đều rất là có ý nghĩa, đều là từ chữ mà ra cả. Cho nên ngay cả người Hàn Quốc bây giờ người ta đang kêu gọi bắt buộc chính phủ phải cho học lại chữ Hán.
(42:41) Bởi vì tên người ta đọc lên ta không hiểu ý nghĩa là gì cả, cũng giống chúng ta thôi. Nên chữ Hán không không phải là cái tài sản riêng của người Trung Quốc mà nó đã trở thành cái tài sản chung của nhân loại rồi. Nên chúng ta học là chúng ta có thể à khôi phục lại được cái văn hóa truyền thống của dân tộc.
(42:59) Cái này là điều thật sự. Cho nên là cái phía sau cùng à Việt có đi ghi một đoạn ấy là một khi chúng ta nắm vững được căn bản chữ Hán thì dần dần chúng ta cũng sẽ thông suốt được chữ Nôm. Và chữ Nôm nó là hệ thống văn tự đặc sắc của dân tộc chúng ta. Nó là kết tinh trí tuệ của tổ tiên. Nó là minh chứng hùng hồn cho một nền văn hóa nhân bản.
(43:29) Trên ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta được hình thành là dựa trên nền tảng của đạo lý thánh hiền. Chúng ta tiếp xúc hàng ngày ấ những lời nói của chúng ta đều là xuất phát từ trong kinh điển rất là nhiều. Chính vì thế cho nên là từng câu từng chữ đều là hàm chứa cái tinh thần của nhân luân cả.
(43:51) Thì cũng mong là tất cả mong tương lai chữ nôm của chúng ta sẽ được khôi phục. Chữ nôm được khôi phục thì người đều có thể từ chữ mà hiểu được nghĩa, đều có thể từ nghĩa mà biết đạo. Từ biết đạo mà chúng ta sẽ phải biết được sống tròn cái bổn phận trách nhiệm của mình như thế nào. Thì nếu mà làm được điều đấy thì chắc chắn sẽ gia đình sẽ hòa thuận, tự nhiên xã hội sẽ an ổn, quốc gia đương nhiên sẽ yên bình hưng thịnh.
(44:22) Trên đây là cái phần đầu tiên, phần chia sẻ phần đầu tiên này với đồng học cũng đã mất thời gian cũng tương đối rồi. Nhưng mà vẫn phải chia sẻ vì nó là cái phần khái quát cơ bản chúng ta cũng phải nắm được. À mời đồng học chúng ta mở sang trang tiếp theo phần à dẫn luận. Đây chúng ta bắt đầu vào cái phần hình thành là tạo chữ ban đầu của chữ Hán.
(44:54) Thì trong cái lời tựa thuyết văn giải tự à có vi như thế này. Đây là đọc lại cho đồng học chúng ta biết. Thời xưa khi bào H t khi Bào H thị đang trị vì thiên hạ, ông ngẩng lên quan sát thấy hiện tượng của trời, cúi xuống quan sát quy luật của đất, nhìn vằn vện của chim thú và thuận hợp của đất đai. Lấy gần thì rút ra bài học trên thân, xa thì rút ra bài học từ vạn vật.
(45:30) Thế là bắt đầu tạo ra bát quái của dịch để mô phỏng hiện tượng dịch. Tức là nói về kinh dịch đấy. Đến thời thần nông dùng kiết dây thừng để quản lý, thống kê sự việc, nhưng sự việc ngày càng nhiều và phức tạp, cho nên cũng bắt đầu sinh ra thói che giấu giả dối. Thời hoàng đế quan xử thương hiệt, nhìn dấu chân của chim thú, biết chia ra những loại tương đồng và khác biệt, bắt đầu tạo ra thư khế, tức là cái bộ chuẩn về chữ viết và văn tự.
(46:06) Ở cái phần này à là đọc cả cho các đồng học thì chúng ta nắm được cái lịch sử. Đây là cái trích dịch là cái đoạn lời tựa thuyết văn giải tự của Hứa Thận viết để chúng ta biết được cái nền tảng căn bản của chữ. Thì chúng ta biết là cả cái phần này là nó có cái hai cái tầng ý nghĩa ở trong sách cũng ghi. Thứ nhất là chúng ta biết được nguồn gốc sâu xa của việc tạo chữ, dùng bắt quái và kết dây thừng.
(46:44) Cái tầng thứ hai là chúng ta nói về quan sử thương hiiệt, cái thời của hoàng đế bên Trung Quốc ấy là tạo ra thư khế như thế nào. Chúng ta học thì chúng ta cũng cần phải biết được cái phần này. Đây chúng ta ban đầu chúng ta ban đầu tạo chữ Hán ấy thì trong lời tự của thuyết văn giải tự nói với chúng ta như vậy rồi thì lời tự nói là văn ban đầu chữ Hán được tạo ra là cái thời của Bào Hi.
(47:22) Ở đây nói là Bào Hi. Chúng ta khi chúng ta tìm hiểu ở trên mạng ấy, chúng ta thấy ông còn có tên khác nữa là Phục Hi này, ông cũng có thể ghi là Mật Hi. Thế thì tại sao lại có cái tên nó khác nhau như thế? Lúc thì gọi là Bảo Hi, lúc gọi là mật Hi, cũng có khi là gọi là bao h nhưng thực ra là không khác, chỉ là một thôi.
(47:49) Bởi vì chúng ta biết là ngôn ngữ nó hình thành, nó trải qua rất nhiều thời gian. Thời xưa ở bên a chúng ta biết cái chữ chữ Hán là hình thành từ Trung Quốc, từ những vùng có ngữ căn của người Trung Quốc. Khi mà chuyển về Việt Nam ấy, khi mà người Việt chúng ta tiếp nhận chữ Hán ấy là chúng ta không dùng cái cách đọc của người Trung Quốc đọc mà chúng ta chuyển về cách đọc của người Việt Nam.
(48:19) Cho nên là đồng hóa toàn bộ cái chữ Hán đó vào trong cái cách đọc của người Việt Nam. Cho nên bên bây giờ ấy cho dù người Trung Quốc trong 1000 năm đô hộ nhưng người ta không thể đồng hóa được mình là vì sao vậy? Là vì bản chất cái ngôn ngữ của mình vẫn không thay đổi. Mình vẫn giữ được tiếng Việt nhưng mà mình có thể lấy được chữ Hán, lấy được những trí tuệ tinh túy từ chữ Hán để biến thành cái chữ hội viết của chính mình.
(48:49) Đây mới là cái vĩ đại của tổ tiên chúng ta để lại. Thì chúng ta phải rất biết ơn về cái việc này. Đến bây giờ chúng ta học hoàn toàn là dùng ngôn ngữ của chúng ta học. Đọc kinh điển cũng là dùng ngôn ngữ của chúng ta đọc. Cho nên là cái chữ viết tuy viết ban đầu như thế nhưng mà trải qua rất nhiều vùng khác nhau thì cách đọc nó sẽ khác nhau.
(49:13) Gọi là về mặt không gian. trải qua thời gian ấy thì cũng có thể biến đổi cũng rất nhiều cách đọc khác nhau nữa. Cho nên là chúng ta sẽ trải qua có khi quay trở về 100 năm trước. Cách nói chuyện của người Việt Nam chúng ta khác xa bây giờ lắm. Có thể những người nào mà còn độ tuổi lớn lớn, chúng ta phải hỏi vào xem cách nói chuyện của cái người độ tuổi cách đấy 50 năm đã khác rồi, cũng khác đi một chút rồi.
(49:47) Cho nên chúng ta hiểu là thời gian và không gian nó là sự biến đổi, nó khiến cho ngôn ngữ có sự biến đổi nhưng mà chữ viết không thay đổi. Nhưng mà ngược lại chữ viết ấy thì lại được hình thành dựa trên ngữ căn, dựa trên lời nói. đấy là những cái lời những cái ngữ căn ban đầu những cái phát âm ban đầu cho nên đây nói là bào h bản chất là bào hi hay phục hi hay bao hy à hay mật hi ấy thì thực ra nó bản chất là một thôi chứ không khác gì nhau cả chỉ là trả có thời gian khác nhau.
(50:24) Người xưa ví dụ như là người xưa phát hiện ra những người nhà nghiên cứu về âm vận phát hiện ra là người thời xưa ấy ví dụ người Trung Quốc người ta có dùng âm môi nặng, âm môi nhẹ. Ví dụ âm môi nặng là à ví dụ như chữ chúng ta đọc chữ bò chẳng hạn là nhẹ chẳng hạn hay là chữ phở hay là chữ chữ như đấy.
(50:45) Người ta người Trung Quốc này người ta phát âm hơi rất nhiều cho nên người ta phân biệt nặng nhẹ âm hơi ở trong đấy ra. Nên thời xưa người ta phát hiện ra là không có những âm âm môi môi âm âm môi nhẹ đâu mà môi nặng cả. Cho nên là những chữ thông qua thời gian nó thay đổi cách đọc khác nhau nó là chuyện rất bình thường qua thời gian.
(51:07) Cho nên ở đây chúng ta biết một chữ là đều có thanh, có âm và à có vận. Chữ thì có ba yếu tố. Thứ nhất là thanh, thứ hai là âm, thứ ba là vận hay là vần. Đấy. Đó, thanh âm vận nó là ba yếu tố rất là quan trọng. ba yếu tố này để ghép lại thành một chữ. Cho nên là ví dụ như là chúng ta khi chúng ta đọc thì thanh hiện tại chúng ta hay nói là gọi là phụ âm đấy.
(52:02) Ví dụ nó là chữ Hán chờ chờ đó là thành ư là gọi là âm và dấu ngã thì gọi là vận tức là vần. Chữ Hán, chữ Hán là hờ hờ hờ an han. Thì đối với chữ Hán thì hờ là thanh đấy, âm là an và vận là dấu sắc. Đấy là Hán. Ví dụ chữ là như thế. Đây là có khi mà hình thành một chữ thì có thanh, có âm, có vận thì chúng ta sẽ cảm nhận được.
(52:50) Thì người Trung Quốc thì người ta à người ta ngôn ngữ người ta theo cách của người ta. Ví dụ người ta bô bô là cái âm âm âm môi chẳng hạn. Pô âm môi là có là có tiếng gió phát ra. Đấy thì khi mà tiếng gió thoát ra này là gọi là khí nó nó nó xông ra cũng là một cái chữ đấy nhưng mà là khác nhau. Người Trung Quốc hay bị nhầm lẫn ở cái địa điểm này.
(53:17) Cũng giống như là người Việt Nam chúng ta sờ người miền Bắc sờ với sờ đấy. Sờ với sờ thì các sẽ có đôi đôi chút khác nhau như thế. Thì đây nó thuộc về ngôn ngữ thì chúng ta sẽ không không bàn quá nhiều ở chỗ này để muốn nói là chúng ta là gì? Qua thời gian không gian và qua rất nhiều thay đổi thì cái chữ bào hi hay là phục h mật hi đọc khác nhau là bình thường nhưng bản chất nó là một người. À chúng ta phải hiểu như thế.
(53:43) À tiếp theo à chúng ta nói cái thời đấy, thời của ông Bào H ấy. Chúng ta tạm giờ dùng Bào Huy, Phục Huy đi. Thời Bào Huy thì ông dùng Bát Quái. Chúng ta nghe bát quái là chúng ta thấy có âm hưởng của phim trưởng ở đây rồi. Ở đông học nào chúng ta xem phim trưởng nhiều chúng ta cứ bắt quái âm dương đúng không? Chúng ta cầm nhớ.
(54:07) Nhưng mà chúng ta cẩn thận. Bởi vì sao? Cái kiến giải chúng ta lâu ngày trầy tháng chúng ta bị dẫn rất sai lầm. Có những cái mà lâu ngày sai thành đúng. Chúng ta phải biết bát quái không có gì là nó phức tạp cả. Bát quái là tám quẻ. Tám cái quẻ mà quẻ là cũng không phải là cái gì thần bí đâu. Lát nữa sẽ nói với đồng học.
(54:29) Nó không có gì thần bí cả. Nó rất đơn giản thôi. Ở đây nói là gì? Cái phía sau nói đối tượng lấy bát quái ấy à nói với chúng ta là cái phần này không đọc lại đồng học nữa vì dài. Chúng ta đọc phần bên trong thì chúng ta sẽ thấy là ở trong này nói chúng ta ban đầu chúng ta nghe bát quái ấ thì chúng ta nghe nó rất là huyền bí.
(54:53) Đặc biệt chúng ta xem phim nhiều ấy thì chúng ta sẽ cảm thấy nó cái gì nó rất là à huyền bí đúng không? Bắt quái âm dương. Bây giờ nói chữ Hán nhìn vào nó thấy rối rắm rồi, lại nói thêm bát quái nữa thì thêm rối rắm nữa chắc là không ai dám học. Thế nhưng mà chúng ta sẽ nhìn lại bát quái nhá.
(55:12) Chúng ta thấy đơn giản lắm. Nó đơn giản nó không có vấn đề gì cả. Nên là khi mà bắt đầu chưa có văn tự ấy, cái thời bào H là lúc đó chưa hề có văn tự thì làm gì mà có tạo ra những thứ mà huyền diệu như thế được. Để chúng ta phải hiểu như thế. Cho nên cái thời bào Huy ấ thực ra là người ông ấy chúng chỉ dùng có hai ký hiệu thôi để viết chữ thôi là ký hiệu âm và ký hiệu dương.
(55:44) Âm là gạch ngắn mà dương là gạch dài âm và dương. Tức là khi mà chúng ta nhìn là bản thân Bảo Huy ấy, chúng ta nhìn được trong cái phần lời tựa nói là gì? Gần thì rút ra bài học từ thân mình. Còn xa thì rút ra từ bài học từ vạn vật. Thế là ông nhìn thấy đất đai sông ngòi. Đất đai sông ngòi thì sao? Đất thường bị sông chia cắt.
(56:16) Đấy. Cho nên là ông dùng đất. Ông dùng cái gì? Ông vẽ một dấu gạch ngang để biểu tiện cho giới nam là dương. Gạch ngang như thế này. Đây là thể hiện cho dương mà dùng hai dấu nét đứt này thể hiện cho âm. Trên này là dương thể hiện cho phải nam. Con người thì có phân chia nam nữ. Và nét đứt này là biểu thị do phái nữ.
(56:59) Đây là những chữ viết đầu tiên chỉ có hai vạch này thôi. Âm dương đấy. Âm dương bắt đầu từ hai vạch này. Đấy gọi là âm hào và dương hào. Âm hào và dương hào. Nên là bản thân khi mà Bào Hi ấ nhìn ra quan sát nhìn thấy mới phát hiện ra là con người sống rõ ràng là nam có nam mà nữ có nữ. Phân tách rõ ràng động vật thì có giống đực, có giống cái.
(57:33) Trời thì có trời có đất. Trời thì liền mạch. Nhìn lên bầu trời nó là liền mạch đúng không ạ? Nhìn bầu trời nó là khoảng không liền mạch, không có gì đứt quãng cả. Mà nhìn đất thì sao? đi qua một đoạn thì lại bị xông ngòi cắt đứt. Đ cứ quan sát thế là cuối cùng tổng hợp lại ông mới bắt đầu tạo ra cái hai ký hiệu này.
(57:54) Đây là gọi chúng ta gọi là những cái văn tự đơn giản nhất là chúng ta hay gọi là âm hào và dương hào. Đấy. Đây là đại biểu. Dương hào thì là đại biểu cho nam giới, còn âm hào là đại biểu à cho nữ giới. Đấy, trời cũng là liền mạch vô tận nên là dùng dương hào để mà đại biểu. Đất thì bị đất đứt quãng cho nên là cũng dùng âm hào nên dùng âm hào ra.
(58:32) Cho nên là chúng ta lại ông lại quan sát ra gì? Ông mở rộng ra ông quan sát ông thấy là đàn ông ấy thì sức dài vai rộng, làm việc đồng áng, khỏe mạnh cho nên là đi nào là cày cày cấy săn bắn mọi thứ là đều là là đàn ông làm cả. Thế là nhìn thấy cái gì mà liên quan đến sức mạnh, liên quan đến những cái gì mà mà mạnh ấy mạnh mẽ gọi là dương ấy thì ông dùng đều dùng cái đều dùng cái dương hảo để mà đại diện mở rộng ra.
(59:11) những cái gì mà nhu thuận, những cái gì mà nhẹ nhàng thì đều dùng cái phần âm để à biểu biểu thị cho cái việc đấy. Nhưng thực ra chúng ta nhìn thấy ở đây từ những cái việc như thế là dần dần ông lấy hai cái ký hiệu là âm và dương ông cứ xếp chồng song song như nhau. Thế là ông ấy sinh ra cái bát quái. Bát quái là tám. Bát quái là như thế nào? Âm dương đây cứ để nguyên đây nhá.
(59:56) Bắt quái là đầu tiên là gì? Hai khi mà những cái gì liền mạch nhất thì là dương hẳn và những cái gì đứ quãng nhất là âm hẳn. Thế là ông xếp chồng lên nhau. Ba cái này là một. Đây là một quẻ. Trở thành một quẻ. Ví dụ ba âm ba hào âm lại lành lên bao nhiêu một quẻ thì quẻ này gọi là quẻ càn. Quẻ này gọi là quẻ khôn.
(1:00:35) Càn và khôn. Chúng ta nghe. Chứ càn khôn là bắt đầu thấy cái gì nó bắt đầu nó vi diệu rồi đúng không ạ? cái gì nó nó hơi đặc đặc hơi đặc thù rồi đấy. Chúng ta nghe thấy chếc càn khôn thì chúng ta thấy những cái tám cái quẻ mà biểu thị như thế thì thực ra để biết một cách chính xác ấy trong này cũng nói rất rõ là chúng ta hoàn toàn không thể biết một cánh một cáh chắc được nữa. Rất khó biết chính xác.
(1:01:09) Cho nên là chúng ta ví dụ người xưa bây giờ chúng ta xem các sách viết đều là nói về gì? Là càn là trời, khôn là đất. Thực ra cái này cũng chưa chắc chắn đâu. Đây là cách người nay diễn dịch thôi. Nó rất là à à có những thứ rất là đơn giản. Nên đây là cái cách mà người xưa từ những cái chữ này người ta tạo ra để người ta quy nạp những cái phần tương đồng để tạo thành các cái quẻ.
(1:01:37) Thế các cái quẻ này ấy nó không có gì là phức tạp cả. Kinh dịch thực ra nó không phải là cái gì nó phức tạp. Kinh dịch nó không phải là cái gì nó huyền bí mà kinh dịch nó là cơ bản. Hôm nay thời gian đã hết rồi. Xin cảm ơn tất cả đồng học đã lắng nghe. [âm nhạc]