Tiếp theo chúng ta sang chữ thử. Mời đồng học mở sách sang phần chữ thử. Chúng ta nhìn quan sát. Hãy dành một vài phút quan sát chữ giáp văn sang chữ tiểu triện, sang chữ lệ thư sang chữ khải thư. Chữ thử này thì trong sách thì Lưu Khắc Hùng, giáo sư Lưu Khắc Hùng chỉ đưa ra bốn thể chữ, không có thể chữ kim văn. Có nghĩa chúng ta không tìm thấy có thể không tìm thấy tư liệu ở trên chữ kim văn của mẫu chữ này. Chúng ta cùng đọc thử là tượng hình của con chuột. Chữ thử giáp văn nhìn ngang giống hình đầu, thân, chân, đuôi của con chuột. Trên có ba chấm mô phỏng đất vụn. Chuột có tập tính đào hang, do đó đầu thường có đất. Chứ tiểu triện phía trên mô phỏng bộ răng, phía dưới mô phỏng bụng, móng và đuôi. Vì chuột thích gặm nhấm nên biểu thị rõ bộ răng của nó. Chú thích thuyết văn chép huyệt trùng chi tổng danh dã tượng hình. Nghĩa là thử tức là chuột là tên gọi chung của các loài trùng sống trong hang. Đây là chữ tượng hình. Đoàn chú chép thượng tượng thủ hạ tượng túc vĩ. Nghĩa là trên mô phỏng đầu, dưới mô phỏng chân đuôi. Ý nghĩa tìm thấy trong điển tịch một nghĩa là lo lắng, kinh thiểu nhã chép, thử tư khấp huyết, lo lắng suy nghĩ, lo lắng suy tư mà đổ lệ máu. Hai, thấp kém ti tiện. Ngụy trí Hoa Đà truyện chép. Thái tổ viết bất ưu thiên hạ đương vô thử thử bối ra. Thái tổ nói, chẳng lẽ không lo thiên hạ có hạng chuột bọ này sao? Từ thường dùng nhắt gan như chuột nghĩa là đảm tiểu như thử. Từ thứ hai thường dùng là thử mục thốn quang, là tầm nhìn như mắt chuột. Đây là cái phần ở trong sách thầy viết à cũng không dài lắm. Chúng ta đọc chúng ta thấy rất thú vị đúng không ạ? Ở trên a trên hình chúng ta nhìn thấy rất là rõ à hình con chuột à có đất, có tập tính đào hang nên là có đất ở phía trên. biến từ Lệ từ Giáp văn tiểu truyện Lệ Thư sang Khải Thư à cũng đã thấy cái manh mối diễn biến rồi. Rồi à đồng học chúng ta à tạm dừng chúng ta viết chữ và chúng ta hãy nhìn vào chữ mẫu để chúng ta viết chữ thử này. Đây là chữ thử. Chúng ta nhìn vào chữ mẫu để chúng ta viết là thật cẩn thận là chữ thử này và cũng mường tượng ra đâu ở trên này cái chỗ nào là mô phỏng đầu, chỗ nào là mô phỏng chân và đuôi. À chúng ta nhìn thấy thực ra đây là chúng ta tưởng tượng ra thôi nhưng mà không thể giống như chữ tượng hình ban đầu của chữ giáp văn được. Chúng ta phải hết sức để ý cái chỗ này. Chúng ta nhìn thấy dần dần có thấy rất dễ nhìn thấy manh mối của diễn biến biến đổi của chữ. À ngày xưa con chuột thì đào đất, ngày xưa không có cống như chúng ta bây giờ nên là chúng ta không có ý cái cái tên gọi là chuột cống. Bây giờ thì đô thị hóa chuột thì không ít khi đào hang nữa mà sống có khi là sống trong cống đúng không ạ? À nhưng mà chuột ngày xưa thì thường là đạo hang để mà sống. Nên từ thời tiền sử người xưa đã nhìn thấy con chuột như vậy nên là vẽ cái hình con chuột à giống như hình con chuột mà chúng ta nhìn thấy. Cái này rất là dễ rồi. Thực ra các đồng học đã học rồi, chúng ta nên viết lại những cái phần trong văn ngôn. Ở đây có lấy rất nhiều cái phần trích dẫn ở trong kinh văn là chúng ta có thể đọc. Ví dụ như là thử tư khấp huyết. là nói lo lắng suy nghĩ mà đổ lệ máu. Thử thử này là lo lắng. Ý nghĩa của nó là lo lắng. Đây là ý nghĩa biến đổi sau này. Thử tư. Tư là tư duy là suy nghĩ. Thử tư à khấp huyết. Ha. Đây là à một câu ở trong kinh Thi, trong sách Tiểu Nhã à trong phần tiểu nhã của sách Kinh Thi. À ở phía dưới còn lấy một cái ví dụ nữa là ví dụ cho người thấp kém ti tiện gọi là hạng chuột bọ. Đấy gọi là thử bối. Thử bối là hạng chuột bọ. Ở phía sau chúng ta sẽ nhìn thấy các đồng học mà học chữ rồi thì chúng ta nên viết lại những chữ này. Chúng ta có câu thường dùng thành ngữ rất là hay. Đảm tiểu như thử, nhát gan như chuột. Đấ. hay là thử mục thuấn quang, tầm nhìn như mắt chuột. Đây những câu thành ngữ nói về con người, những người mà có tầm nhìn kém, tầm nhìn như mắt chuột. Rồi chư thử chúng ta trao đổi đến đây.