Bài 6 Sơ cấp

Chữ Trùng(虫), Thử(鼠), Yến(燕), Điểu(鳥), Chuy(隹)

[Transcript được tạo tự động]:
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả quý vị đồng học. Xin mời ngồi. Chúng ta tiếp tục cùng nhau học tập thảo luận môn học Hán tự nhập môn. À buổi trước chúng ta đã học đến chữ tha vô tha hồ. Các đồng học à có gặp rắn không? À chắc chắn là hôm nay chúng ta không gặp rắn ở thành phố rất khó gặp đúng không? How are you? Các bạn có khỏe không? Đây là người xưa chào nhau à dùng chữ tha để mà chào nhau à vấn an sức khỏe của nhau.
(01:03) Hôm nay chúng ta tiếp tục học sang chữ tiếp theo. Xin mời đồng học mở sách Hán tự nhập môn trang 30 phần chữ trùng hay là chữ hủy. Đây là có hai âm đọc. Chúng ta âm đọc hay dùng là có khi đọc là trùng, có khi đọc là hủy. Chúng ta hãy xem chữ giáp văn biến đổi dần sang chữ kim văn, sang chữ tiểu triện, sang chữ lệ thư và sang chữ khải thư.
(01:40) Trùng là tượng hình của con rắn hổ mang, tức là phúc xà. Chữ giáp văn, kim văn mô phỏng hình dạng con rắn uốn cong đang bò đi. Chữ tiểu triện là biến đỗi biến đổi từ chữ giáp văn, kim văn mà ra. Chú thích thuyết văn chép nhất danh phúc bác tam thốn thủ đại như phách chỉ tượng kỳ ngọa hình vật chi vi tế hoặc hành hoặc phi hoặc mao hoặc luy hoặc giới hoặc lân dĩ trùng vi tượng trùng hay hủy có một tên khác là phúc tức là rắn hồ mang dài khoảng ba tấc, đầu to như ngón tay cái.
(02:38) Mô phỏng hình con rắn hổ mang đang nằm là các loài vật nhỏ bé hoặc đi hoặc bay, hoặc có lông hoặc yếu ớt, hoặc có mai, hoặc có vảy đều lấy chữ trùng để mô phỏng. Sách đoàn chú chép. Án dĩ vi tượng ngôn dĩ vi tượng hình dã tòng trùng chi tự đa tả hình hữu thanh tả giai dụng trùng vi tượng hình dã chiếu theo mô phỏng thì nói đây là chữ tượng hình vậy các chữ tượng hình à các chữ hình thành từ chữ trùng thì phần nhiều bên trái à là hình còn bên phải là thanh bên bên trái dùng chữ trùng để làm tượng hình.
(03:32) Vậy lời chú, chữ trùng là tên chung cả các loại trùng ngọ nguậy mà chữ trùng là chỉ riêng. Chữ trùng tức là ba cái chữ chữ trùng mà trồng lên nhau đấy là chỉ chung cho các loại trùng ngọ nguậy. Mà chữ trùng tức là dùng một chữ trùng này là chỉ riêng cho con rắn hổ mang. Hai chữ này nghĩa khác nhau.
(03:56) Chữ giản thể ngày nay lại dùng chữ trùng thay chữ trùng một chữ thay thế cho chữ trùng ba chữ trồng lên nhau. Chữ trùng là bộ thủ. Ở trong bộ thủ những chữ trùng đa phần à chữ trùng đa phần là biểu thị cho các loài trùng như là bạn là con trai, con sò hay là xà là con rắn. Răng là con ruồi. Lời chú.
(04:27) Ở trong sách đoàn chú nói chữ trùng. Hai chữ trùng ghép với nhau như sau. Chữ trùng có thể đọc là trùng. Tức chữ trùng hủy ấy là chữ gốc chúng ta đang học. Có thể đọc là trùng tức là ba chữ trùng trồng lên nhau. Hai chữ trùng thì thành chữ trùng. Hai chữ xếp bên cạnh nhau là biểu thị cho nhiều trùng. Ba chữ trùng trồng lên nhau thì là chữ trùng có ba chữ đấy là biểu thị cho càng nhiều trùng hơn.
(05:00) Đoàn Ngọc Tài cho rằng chữ được hình thành từ ba chữ trùng này đều có nghĩa là số lượng rất lớn. Nói đơn giản, chữ trùng một một chữ đấy là cá thể đơn lẻ. Chữ trùng hai chữ xếp cạnh nhau là tương đối nhiều, còn chữ trùng ba chữ trồng lên nhau là nhiều nhất. Đây là phần chú giải của giáo sư Lục Khắc Hùng soạn. Chúng ta thấy đọc một chữ trùng thôi.
(05:30) À nếu như mà chúng ta không biết chữ thì nó là trùng thì trùng nào? À nếu mà chỉ đọc không thì làm sao biết được? Chúng ta nhìn thấy chữ a chữ trùng chúng ta học ấy trong đoàn chú chúng ta thấy nói rất là rõ đúng không ạ? À cứ xếp thành ba cái mà xếp lên nhau. Bây giờ các đồng học chúng ta hãy cùng trước khi vào phần ý nghĩa thì chúng ta hãy cùng tập viết chữ trùng.
(05:59) Chữ trùng này thì rất dễ viết. Viết bằng chữ khải thư. Các đồng học hay mỡ mở à chữ mẫu ra để chúng ta nhìn và chúng ta viết. Đây là chữ trùng. Nét thứ nhất. Nét thứ hai, nét thứ ba, đóng cửa. Nét thứ tư, nét thứ năm, nét thứ sáu là có sáu nét. Đây là thể chữ khải thư của chữ trùng. Còn nếu mà chúng ta phải nhớ chữ trùng này không phải là biến đổi từ chữ trung đâu nhé.
(06:33) Chúng ta đừng có hiểu nhầm biến đổi từ chữ trung giữa này. Đây là rất nhiều người mới học Hán văn thường hay suy đoán. Chúng ta học nhập môn thì chúng ta không suy đoán mà chúng ta biết đây là chữ à căn bản. À trong chữ giáp văn thì mô tại là hình con rắn rất là rõ ràng đúng không ạ? Có cái đầu rắn, có cái thân rắn nó ngoằn ngoèo.
(07:00) À giáp văn thì viết như thế này. Viết ngược lại. Thường thì viết ngược lại. Đây là giáp văn. Đó chúng ta thấy giống mũi tên. Còn sang chữ kim văn thì viết nó to hơn là như thế này. Ngược lại như thế này. Sang chữ kim văn này viết như vậy. Thì đây đều chúng ta nhìn thấy được cái những chữ này đều thấy hình rõ được cái hình con rắn.
(07:31) Nh sang đến cái chữ khải thư thì chúng ta rất khó đoán rồi. Thậm chí nếu không học cái phần Hán tự nhập môn này thì chúng ta nghĩ rằng chữ trùng này là biến đổi từ chữ trung. Đây là hiểu lầm à rất là lớn. Chúng ta hãy a tạm dừng để viết chữ. Các đồng học hãy tập viết chữ này, chữ trùng.
(08:01) Khi viết thì chúng ta hãy lưu ý tập trung vào à quy tắc của chữ chữ mẫu như thế nào, à quy tắc ng bút thuận như thế nào để chúng ta viết theo. Cái đầu học viết xong rồi ạ. Rồi chúng ta đã viết xong chữ trùng thì bây giờ chúng ta cùng thảo luận một chút về chữ này. Vừa rồi có đọc cho đồng học cái phần ở trong sách gần như là phần ở trong sách giáo sư Lưu Khắc Hùng chúng ta đọc chúng ta đã hiểu rồi.
(08:34) À nên là không cần dành quá nhiều thời gian để giải thích. Ở đây chúng ta thấy cái vọn phía sau à đoàn Ngọc Tài có nói với chúng ta là [âm nhạc] cái gì mà xếp lên nhau mà ba chữ, hai chữ mà trồng lên nhau thì là tương đối nhiều. Chúng ta có chữ trùng này. Đây là chữ trùng là một chữ à chuyển đến cái chữ trùng này nhiều trùng lại xuống cái chữ trùng này đây.
(09:06) Đây là ba chữ trùng đây là rất nhiều người xưa đây là hội ý. Đây là rất nhiều rất nhiều trùng. Đây là đoàn Ngọc Tài giải thích cho chúng ta. Ba chữ trồng lên nhau thấy rất là hay. À ở trong chữ Hán ấy có những cách tạo chữ rất là hay. À ví dụ bây giờ chúng ta nhìn vào chữ này. Các đuốc học nhìn ra chữ gì không ạ? Đây là tượng hình của à chữ triệt.
(09:39) Triệt là ngọn cây, ngọn cỏ cọng cỏ nhỏ là chữ triệt. Đây là một chữ. À bây giờ một chữ thôi nhá. Bây giờ thêm như thế này. Hai ngọn cỏ. Hai ngọn cỏ thì là chữ gì? thành chữ thảo. Thành chữ thảo. Thảo thảo là cỏ. Chúng ta nói thảo bây giờ thì thành ba. Ví dụ như là ba cái trồng lên nhau nghĩa là sao ạ? Rất nhiều cỏ.
(10:27) Rất nhiều cỏ thì là thành cái gì? thành bụi rậm. Rất nhiều cỏ thành bụi rậm. Cho nên rất nhiều cỏ thành bụi rậm nó thành cái chữ gì? Thành chữ này là chữ hội. À chúng ta xem chữ này là chữ gì? Các đồng học nhìn xem chữ nó là chữ gì. Chữ này là chữ hủy. À chữ này là chữ hủy. Rất nhiều cỏ đúng không ạ? Rất nhiều cỏ.
(10:58) Bây giờ chữ hủy ngày xưa thì thậm chí chữ này nó còn có cách viết thế này cũng ba chữ thảo trồng lên nhau thôi cũng có cách như thế này. Thậm chí là ở trên này thường hay dùng cách này nhiều hơn. Ở trên là một chữ thảo dưới hai chữ giống mô tả trên này. Đây là chữ hủy. Nghĩa là bụi cỏ. Rất nhiều bụi cỏ. Còn nếu mà lên thành 4 à lên bốn thì còn nhiều hơn nữa.
(11:36) Ví dụ lên 4 đây trồng bốn cái cỏ đên nhau là bốn cái cỏ này đấy thành cái gì? Thành chữ mãng. Mãng chữ mãng. Mãng thì nếu viết theo khải thư thì như thế này. Đây là chữ mãng. Mãng có nghĩa là một bãi cỏ rộng lớn, không phải bụi cỏ nữa mà bây giờ là bãi cỏ rộng lớn. Cho nên chúng ta thấy cách người ngày người xưa tạo chữ rất là hay à đúng không ạ? Đấy, ví dụ như một chữ nữa là chúng ta thường hay thấy cách tạo chữ này.
(12:17) Đây là giải thích thêm cho đồng học chúng ta hiểu tại sao đoàn Ngọc Tài lại nói ba chữ trùng ghép nhau nên lại rất nhiều trùng, rất nhiều trùng. Đây chúng ta có chữ kim. Kim là vàng. Đấy. Ví dụ mà nếu mà chúng ta xếp ba chữ kim lên nhau, ba chữ kim này đọc là hâm. Hâm là gì? Nghĩa là rất nhiều vàng là giàu có. Đây là cách tạo chữ người xưa.
(12:54) Cho nên là à người xưa tạo chữ ý nghĩa cũng rất là hay. Chúng ta học rồi sau này chúng ta sẽ nhìn một chữ chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa của chữ đó gốc là gì. Rồi chữ trùng chúng ta thảo luận đến đây thôi. À phần ở trong sách nói tương đối rõ rồi. Chúng ta nếu chưa hiểu đọc đi học lại nhiều lần và tham vấn thêm các đồng học đi trước.
(13:18) Nhớ phải viết cho thuộc nhé. Tiếp theo chúng ta sang chữ thử. Mời đồng học mở sách sang phần chữ thử. Chúng ta nhìn quan sát. Hãy dành một vài phút quan sát chữ giáp văn sang chữ tiểu triện sang chữ lệ thư sang chữ khải thư. Chữ thử này thì trong sách thì Lưu Khắc Hùng, giáo sư Lưu Khắc Hùng chỉ đưa ra bốn thể chữ, không có thể chữ kim văn.
(13:58) Có nghĩa chúng ta không tìm thấy có thể không tìm thấy tư liệu ở trên chữ kim văn của mẫu chữ này. Chúng ta cùng đọc. Thử là tượng hình của con chuột. Chữ thử giáp văn nhìn ngang giống hình đầu, thân, chân, đuôi của con chuột. Trên có ba chấm mô phỏng đất vụn. Chuột có tập tính đào hang, do đó đầu thường có đất. Chữ tiểu triện phía trên mô phỏng bộ răng, phía dưới mô phỏng bụng, móng và đuôi.
(14:42) Vì chuột thích gặm nhấm nên biểu thị rõ bộ răng của nó. Chú thích thuyết văn chép huyệt trùng chi tổng danh dã tượng hình. Nghĩa là thử tức là chuột là tên gọi chung của các loài trùng sống trong hang. Đây là chữ tượng hình đoàn chú chép thượng tượng thủ hạ tượng túc vĩ. Nghĩa là trên mô phỏng đầu, dưới mô phỏng chân đuôi. Ý nghĩa tìm thấy trong điển tịch một nghĩa là lo lắng, kinh thiểu nhã chép, thử tư khấp huyết, lo lắng suy nghĩ, lo lắng suy tư mà đổ lệ máu.
(15:42) Hai, thấp kém ti tiện. Ngụy trí Hoa Đà truyện chép. Thái tổ viết bất ưu thiên hạ đương vô thử thử bối ra. Thái tổ nói, chẳng lẽ không lo thiên hạ có hạng chuột bọ này sao? Từ thường dùng nhắt gan như chuột, nghĩa là đảm tiểu như thử. Từ thứ hai thường dùng là thử mục thốn quang, là tầm nhìn như mắt chuột. Đây là cái phần ở trong sách thầy viết à cũng không dài lắm.
(16:24) Chúng ta đọc chúng ta thấy rất thú vị đúng không ạ? Ở trên a trên hình chúng ta nhìn thấy rất là rõ à hình con chuột à có đất, có tập tính đào hang nên là có đất ở phía trên. biến từ Lệ từ Giáp văn tiểu truyện Lệ Thư sang Khải Thư à cũng đã thấy cái manh mối diễn biến rồi. Rồi à đồng học chúng ta à tạm dừng chúng ta viết chữ và chúng ta hãy nhìn vào chữ mẫu để chúng ta viết chữ thử này.
(16:58) Đây là chữ thử. Chúng ta nhìn vào chữ mẫu để chúng ta viết là thật cẩn thận là chữ thử này và cũng mường tượng ra à đâu ở trên này cái chỗ nào là mô phỏng đầu, chỗ nào là mô phỏng chân và đuôi à chúng ta nhìn thấy thực ra đây là chúng ta tưởng tượng ra thôi nhưng mà không thể giống như chữ tượng hình ban đầu của chữ giáp văn được.
(17:26) Chúng ta phải hết sức để ý cái chỗ này. Chúng ta nhìn thấy dần dần có thấy rất dễ nhìn thấy manh mối của diễn biến biến đổi của chữ. À ngày xưa con chuột thì đào đất, ngày xưa không có cống như chúng ta bây giờ nên là chúng ta không có ý cái tên gọi là chuột cống. Bây giờ thì đô thị hóa, chuột thì không ít khi đào hang nữa mà sống có khi là sống trong cống đúng không ạ? À nhưng mà chuột ngày xưa thì thường là đào hang để mà sống.
(18:01) Nên từ thời tiền sử người xưa đã nhìn thấy con chuột như vậy nên là vẽ cái hình con chuột à giống như hình con chuột mà chúng ta nhìn thấy. Cái này rất là dễ. Rồi thực ra à các đồng học à đã học rồi chúng ta nên viết lại à những cái phần trong văn ngôn. Ở đây có lấy rất nhiều à cái phần trích dẫn ở trong a kinh văn là chúng ta có thể đọc.
(18:25) Ví dụ như là à thử tư khấp huyết là nói lo lắng suy nghĩ mà đổ lệ máu. Thử thử này là lo lắng. Ý nghĩa của nó là lo lắng. Đây là ý nghĩa biến đổi sau này. Thử tư. Tư là tư duy, là suy nghĩ. Thử tư à khấp huyết. Ha. Đây là à một câu ở trong Kinh Thi, trong sách Tiểu Nhã à trong phần tiểu nhã của sách Kinh Thi. À ở phía dưới còn lấy một cái ví dụ nữa là ví dụ cho người thấp kém ti tiện gọi là hạng chuột bọ đấy gọi là thử bối.
(19:10) Thử bối là hạng chuột bọ. Ở phía sau chúng ta sẽ nhìn thấy các đồng học mà học chữ rồi thì chúng ta nên viết lại những chữ này. Chúng ta có câu thường dùng thành ngữ rất là hay. À đảm tiểu như thử, nhát gan như chuột. Đấy. Hay là thử mục thuấn quang, tầm nhìn như mắt chuột. Đây những câu thành ngữ nói về con người, những người mà có tầm nhìn kém, tầm nhìn như mắt chuột.
(19:41) Rồi chư thử chúng ta trao đổi đến đây. Mời đồng học mở sang trang tiếp theo. Chúng ta xem chữ yến. Chúng ta lại dành một chút thời gian quan sát chữ giáp văn, biến đổi dần sang chữ tiểu triện, biến đổi dần sang chữ lễ thư và cuối cùng sang chữ khải thư mà chúng ta đang dùng. Khi quan sát thì các đồng học hãy dùng cái trí tưởng tượng của mình à mô phỏng với từ từ chữ à giáp văn sang tiểu triện, sang lệ thư, khải thư từng phần một sẽ xem mô phỏng như thế nào.
(20:36) Sau khi a quan sát xong à chúng ta mới đọc sang cái phần phía dưới. Yến là tượng hình của con chim én, tức là yến tử. Chữ giáp văn mô phỏng con chim én đầu hướng lên trên đang tung cánh bay lên. Chữ tiểu triện được biến đổi từ chữ giáp văn mà ra. Phía trên mô phỏng chiếc mỏ như chiếc kìm nhỏ của chim én.
(21:14) Ở giữa mô phỏng lưng và thân của nó. Phía dưới mô phỏng đuôi trẻ đặc trưng của nó. Hai bên thân lưng mô phỏng đôi cánh đang răng rộng khi bay. Chú thích thuyết văn chép huyền điểu dã nhiếp khẩu bố xí chi vĩ tượng hình nghĩa là yến mô phỏng loài chim màu đen tức gọi là huyền điểu. Mỏ hình cái kẹp cánh răng đuôi trẻ. Đây là chữ tượng hình.
(21:56) Ý nghĩa thấy trong điển tịch một là tiệc tùng tức là yến ẩm. Mượn âm chữ yến để giả tá cho chữ yến trong yến tiệc. Thi kinh lộc minh chép. Ngã hữu chỉ tửu gia tân thức yến dĩ ngao. Nghĩa là ta có rượu ngon, khách quý hãy vui vẻ thưởng thức yến tiệc. Lời bàn: Hai chữ yến trong chữ yến tiệc và chữ yến ở trong con chim én.
(22:39) Hai chữ này trong phiên thiết đều thuộc bộ 14 và nhóm vận mẫu thứ 14. Hai chữ đều là đồng âm cho nên có thể dùng thay thế cho nhau. Ý nghĩa thứ hai là một tên nước chư hầu thời Xuân Thu đọc là Yên là nước Yên. Tả truyện Ẩn công ngũ niên chép Vệ Nhân Dĩ Yên sư Phật Trịnh. Người nước Vệ liên kết với quân nước Yên để đánh nước Trịnh.
(23:15) Ý nghĩa thứ ba khinh mạn xuồng xã. Lễ ký học ký chép yến bằng nghịch kỳ sư. Nghĩa là bạn bè xuồng xã khinh nhờn thì sẽ ngỗ nghịch với thầy. Từ thường dùng là yến tử nghĩa là chim én và hải yến nghĩa là chim én biển. Đây là phần à giải thích của giáo sư Lưu Khắc Hùng ở trong sách. Chúng ta thử xem vẽ con chim én.
(24:02) Con chim én thì có cái đầu, có hai cái mỏ à chúng ta mỏ hình kẹp đúng không ạ? Rồi lại có cái thân như này, có hai cái cánh nó rang ra. Rồi phía dưới là cái đuôi trẻ của nó đặc đặc trưng. Đây là chữ tượng hình cái chi cái cái cánh của nó thể thêm như thế này nữa mới giống con đó. Lên cánh đây là chữ tượng hình ngày xưa.
(24:29) Đấy sang chữ tiểu triện thì viết chúng ta thấy nó sẽ khác một chút. Đây ở trên này là hình cái đầu ở dưới là hình cái thân. Đó. Bên này là hình hai cái cánh. Chúng ta thấy không? Hai cái cánh như thế này. Và ở dưới là cái đuôi trẻ đặc trưng của nó. Đây là chữ tiểu triện. Chữ tiểu triện sẽ viết như thế này. Chúng ta nhìn thấy đây là sự biến đổi.
(25:05) Nó tương đối là từ chữ giáp văn mà sang chữ tiểu triện thì nó có phần giống giống. Đúng không ạ? Rất tượng hình có cánh. Tú nhân nhìn thấy con chim én thì có cánh có thân, có đầu, có mỏ, có đuôi. Đây là con chim én. Một cánh én nhỏ chẳng làm nên mùa xuân. Đấy. Đây là con chìm én gọi là à chữ yến.
(25:40) Đến bây giờ đến khúc chúng ta sang chữ khải thư. À các đồng học xem và hãy xem chữ mẫu đến lượt chúng ta viết chữ nhá. À chữ khải thư thì viết như thế nào? Chúng ta nhìn à vào chữ mẫu và sau đó chúng ta hay tập viết. Tạm dừng lại video nhìn chữ mẫu. À tập viết. Nhìn chữ mẫu thì các đồng học sẽ nhìn thấy rất là rõ ràng từng nét từng nét một.
(26:11) Chúng ta tập viết rất là dễ dàng và nên viết nhiều. Viết đến khi quen thì chúng ta lại tiếp tục quay lại nghe giảng. Rồi mời các đồng học chúng ta à nhìn lên phía trên. Chúng ta nhìn chữ Khải thư. Đây là giáp văn, kim văn và chữ khải thư ngày nay chúng ta dùng. Chúng ta thấy vẫn còn giữ cái hình dáng đúng không ạ? Ở trên này là cái đầu, cái mỏ, ở giữa là cái thân, hai cái cánh hai bên, ở dưới là đuôi.
(26:40) À nhớ nhá, đây là cái đuôi chúng ta đừng nhìn vào chữ này rồi là đặc biệt là các đồng học mà chúng ta học từ 214 bộ, chúng ta suy đoán ở dưới này là bộ hỏa. Không phải đâu. Đây là cái đuôi rất nhiều à con vật đều dùng cái này, đều dùng bốn cái dấu dấu chấm dướ này để tượng hình cho cái đuôi của nó. Ở trong a sách thuyết văn có nói là gì? À huyền điểu dã. À huyền điểu.
(27:15) Huyền lá đen. Huyền điểu là con chim màu đen. Chúng ta thấy con chim én màu gì? màu đen. À cứ mùa xuân là chúng ta thấy con chim én bay để trời à màu của nó là màu đen. Chúng ta tra cứu ở trên mạng cũng có thể thấy nếu đồng học ở thành phố thì ít khi nhìn thấy còn chếm én. Nhưng mà ngày xưa thì nhìn thấy rất là nhiều.
(27:37) Nó là màu đen. Yến thường có màu đen. Màu khác thì chúng ta cũng chưa biết. cũng có thể có không nói nhưng thường là màu đen nhưng mà à đến chữ gần như là chúng ta ở chữ tượng hình tượng hình của cái chữ giáp văn nhìn rất là rõ nhưng mà sang chữ kim văn chữ lệ thư à sang chữ tiểu triện Lệ Thư và Khải Thư chúng ta nhìn thấy cũng không rõ hình con yến con chim én nữa rồi.
(28:07) Nó không giống như chim én nó là dùng cái nét chữ để mô phòng thôi. Cho nên bốn dấu chấm, bốn dấu chấm ở dưới là tượng hình cho cái đuôi nhá. Bây giờ ví dụ như chúng ta nhìn thấy à bốn dấu chấm này viết rất nhiều. Bây giờ chúng ta mạn đàm thêm một chút từ cái bốn dấu chấm này à từ phía dưới đuôi nhá. Các đồng học à nhìn chữ này là chữ gì? Chữ này là chữ chữ nhiên nhiên trong thiên nhiên ấy.
(28:55) Nhưng mà chữ nhiên này nghĩa gốc nó không phải vậy. Chữ nhiên này à trong nghĩa gốc nó không phải vậy. Chúng ta biết chữ gì đây không? Bên này là bên này là chữ gì? Đây là chữ gì? Cái này là chữ nhục. Nó nó biến đổi từ chữ này. Chữ nhục. Nhục thịt. Rồi nhục. Cái này là chữ gì? Chúng ta hôm trước bàn nhiều rồi. Chữ khuyển là con chó đúng không ạ? Khuyển là con chó.
(29:36) Nhục khuyển là gì? Thịt chó. Dưới này là bộ hỏa. Đây là nướng thịt chó. Các đồng học Phật thì chúng ta nghe chỗ này chúng ta cảm thấy sát sinh đúng không ạ? Nhưng mà chúng ta học Phật thì chúng ta cầu chân, chúng ta không được à chấp vào à ngôn từ, không được dính mắc vào đó. Cầu chân nghĩa là gì? Chúng ta truy tìm xem cái cái nguồn gốc của này vốn dĩ nó là gì.
(30:11) Ví dụ chữ nhiên này ban đầu nó là gì? Nó là miêu tả hình người xưa là dùng để nướng thịt chó. Đến sau này thì người ta dùng chữ nhiên cho chữ tự nhiên. Dần dần chữ nhiên cho chữ tự nhiên. Cho nên là mượn dùng lâu ngày thì thành cái chữ dùng hiện tại. Nhưng mà bốn cái dấu chấm này nó không giống bốn dấu chấm kia. Đấy, bốn dấu chấm này là thể hiện cho lửa đốt ở dưới.
(30:41) Nhưng bốn dấu chấm ở bên chữ yến ấy của chúng ta ấy là thể hiện được cái đuôi nó hoàn toàn khác nhau. Cho nên khi mà phân tích về chữ, về văn tự, chúng ta không học từ sơ văn thì chúng ta tự nghĩ rằng bốn dấu chấm đấy là bộ hòa. Nhưng không phải. Cái đó thực ra là à là gọi là chữ à gọi là cái đuôi thôi.
(31:09) Chữ nhiên này th thông thường người ta ví dụ chữ nhiên này là là thiêu chẳng hạn là là thiêu đốt chẳng hạn. Người ta hay thêm ví dụ thêm trước bộ hỏa nữa thì nhìn cho nó cho nó rõ. thêm trước bộ hỏa đây nữa thì nghĩa là thiêu đốt. Nghĩa là thiêu đốt. Thêm bộ hỏa phía trước nữa thì ý nghĩa của nó lại là cũng là chữ nhiên đọc là nhiên à gọi là cháy.
(31:34) Đấy ở dưới bộ hỏa dưới thì đốt mà bộ hỏa bên cạnh thì là cháy lên rồi thì gọi là chữ này gọi là cháy. Nên là chữ nhiên là như thế. chữ nhiên này lửa ở dưới lửa trên con chó này chắc là cũng tương đối đau cho nên là chúng ta cũng thấy thương đúng không ạ? Phát khởi lòng từ bi. Chúng ta phải chuyển ngay cái tâm của chúng ta à hiểu nghĩa chân rồi thì phải tìm hiểu thêm cái ý nghĩa của nó.
(32:03) À chúng ta phải thêm vài chữ mà có cái dấu chấm ở dưới nữa là lần sau chúng ta sẽ học nhưng mà chúng ta tìm hiểu trước một chút. Ví dụ như là chữ ngư ngư là con cá. Đây là đuôi cá. Đấy. Đây là đuôi cá. hay là chữ chúng ta chuẩn bị học là chữ điểu. Điểu cũng có bốn dấu chấm này. Điểu cũng có bốn dấu chấm này.
(32:42) Thì bốn dấu chấm này là cái đuôi. Cho nên thực tế hiện nay nhìn thì giống nhau nhưng thực tế cái gốc nó là khác nhau. Gốc ch khác nhau. Nên chúng ta cần phải hiểu được cái gốc của nó. Nếu không hiểu được cái gốc của nó ấ là chúng ta suy đoán lung tung hết. Nên chữ giáp văn ấy, chữ Hán mà chúng ta học là nó biến đổi từ giáp cốt văn, kim văn, tiểu triện. Nó biến đổi dần dần.
(33:11) Có khi là những chữ hiện tại chúng ta nhìn là chữ Khải Thư nó không nhìn giống chữ gốc nữa nên sai sai khác nhau rất là nhiều. À nên có rất nhiều nhà à văn tự học, nhiều người mà chuyên sâu vào chữ Hán ấy, các vị đều nói là chữ Lệ Thư, chữ Khải thư vốn dĩ đã phá hoại đi hình tượng gốc của chữ Hán rồi. Chữ tiểu triện thì vẫn còn giữ được tương đối.
(33:39) Nhưng mà sang Lệ Thư, Khải Thư là phá hoại lớn thì hình tượng của chữ Hán. Nhưng mà vấn đề ở chỗ là gì? May mà hiện tại chúng ta cũng tương đối quen rồi cho nên là mường tượng ra được. Mường tượng ra được. Thế bây giờ hiện người hiện đại, người Trung Quốc hiện đại lại vẽ ra một cái loại nữa gọi là loại chữ giản thể. Chúng ta thấy nguy hiểm.
(34:02) Chữ giản thể cực kỳ nguy hiểm. Nên chư giản thể là làm gần như phá hoại hoàn toàn đi cái văn hóa truyền thống của người xưa để lại. Đấy, ví dụ như là chúng ta nói chữ giản thể một chữ mà như thế này để chúng ta thấy khi đọc chữ giản thể cái ý nghĩa đã hoàn toàn là khác biệt rồi. Bây giờ người những nước những nơi còn dùng chữ phồn thể như là Đài Loan, Hồng Kông thì họ vẫn còn hiểu được một chút chút về cái nghĩa gốc.
(34:37) Nhưng mà sang chữ chữ giản thể ví dụ như là chúng ta nói chữ ái, chữ ái đây là chữ ái, chữ gốc như thế này. Ở giữa là chữ tâm, ở ngoài là chữ thụ, dùng trái tim để mà cảm thụ nhu cầu của người khác. Nghĩa gốc của nó là như thế. hiện nay chuyển sang chức dàn thể thành như thế này. Đây là chữ giản thể mất đi trái tim. Cho nên có nhiều người nói là ngày nay yêu không còn trái tim, không dùng à tâm để yêu nữa, không dùng trái tim để yêu nữa mà dùng vật chất.
(35:26) Cho nên a chúng ta học tập thì đặc biệt là những người như chúng ta đang học Hán Tự nhập môn, tức là chúng ta học gốc về chữ thì chúng ta phải nhớ à người xưa tạo chữ ý nghĩa rất là hay. Chúng ta học văn hóa truyền thống là chúng ta học từ cái văn tự này chúng ta hiểu được cái nghĩa gốc thì bản thân chúng ta cũng có một cái sứ mệnh rất là lớn.
(35:59) Chúng ta có sứ mệnh gìn giữ những cái chữ gốc này. Dìn giữ để những chữ gốc này sau này còn tiếp tục phát huy cho đến ngàn vạn năm sau để cái gốc này nó còn lưu truyền nó phát huy. Đây là trách nhiệm của những người học tập như chúng ta. Cho nên tăng tử nói sĩ, sĩ là gì? Sĩ bất khả dĩ à gọi là sĩ bất khả dĩ, bất hoàng nghị.
(36:31) Có một câu như thế này. Tăng tử nói về người sĩ, tức là người đi học. Sĩ bất khả dĩ bất hoàng nghị. À cái này không viết ra bởi vì có nhiều đồng học chúng ta à mới học viết ra nhiều chúng ta sẽ choáng. Đại khái ý nghĩa là à hoằng có nghĩa là lớn, nghị có nghĩa là cương nghị, là kiên nhẫn. Đấy, một người thì phải có tinh thần, một người gọi là sĩ thì phải có tinh thần hoàng nghị thì mới có thể di truyền được, mới có thể truyền lại được cái di sản quý báu của tổ tiên để lại.
(37:13) Thực ra phải có cái sức kiên nhẫn rất là lớn. Đặc biệt là chúng ta học Hán học thì chúng ta còn phải phát huy vì đó là cái trách nhiệm của chính chúng ta. Cho nên chúng ta học cái này ấy, bây giờ tuổi còn trẻ chúng ta còn học thì đến tuổi về già chúng ta vẫn học, tuổi về già chúng ta vẫn làm việc này. Bây giờ à chúng ta 45 50 tuổi đến 7 80 tuổi có lẽ chúng ta vẫn làm việc này.
(37:39) Cho nên đây là với văn hóa truyền thống ấy thì không được để đứt đoạn. Thực ra tiếng Việt chúng ta hình thành được từ chữ Hán rất là nhiều. lấy từ nghĩa của chữ Hán mà hình thành nên tiếng Việt rất là nhiều. Và tiếng Việt thực sự rất đẹp, tiếng Việt thật sự rất hay. Nếu có thể khôi phục lại được chữ Hán, chữ Nho thì phải nói là tuyệt vời.
(38:01) Cho nên trách nhiệm đặt lên vai của chúng ta rất là lớn. Chúng ta phải hiểu cái trách nhiệm này để mà cùng nhau học tập. À cho nên là à chúng ta học tập thì chúng ta luôn luôn giữ được cái lửa này thì khó khăn mấy chúng ta cũng có thể nỗ lực vượt qua. Vì à nét đẹp của trong văn học, của trong văn hóa truyền thống.
(38:27) Vì nét đẹp của những tư tưởng, những triết lý mà tổ tiên chúng ta đã đền đã truyền thừa lại thì chúng ta phải học cho đúng gốc. Thì một chút mạn đàm là khi chúng ta học về chữ yến, về sự biến đổi của nó, về chúng ta nhìn thấy cái sự khác biệt bốn cái dấu chấm ở phía dưới ấy nó khác so với cách xúc chúng ta suy nghĩ này để cho độc học thấy được cái trách nhiệm của chúng ta phải lấy đ lại được cái gốc của nó. Đây là cái trách nhiệm.
(38:55) Đây là nói về chữ yến ha. Chúng ta xem ở trong sách thì chúng ta thấy cũng rất đơn giản rồi. Các đồng học à đã biết chữ rồi chúng ta nên viết lại những cái câu ở trong này nhá. Nên chép lại. Chép nhiều chúng ta sẽ nhớ. Mời đồng học mở sách trang tiếp theo chúng ta học chữ điểu. Đồng thời chúng ta học luôn cả chữ truy vì hai chữ này kết hợp với nhau rất hay.
(39:28) À chúng ta trước hết chúng ta xem chữ điểu, chúng ta xem a chữ giáp văn rồi chuyển đổi sang chữ kim văn, chuyển sang chữ tiểu triện, chuyển sang chữ lệ thư, rồi chuyển sang chữ khải thư. Chúng ta hãy nhìn và chúng ta hay mường tượng từ đầu đến cuối đã thay đổi như thế nào à cả một quá trình. Điểu là tượng hình của một con chim.
(40:09) Chữ giáp văn, chữ kim văn là hình dạng của một con chim. Đầu chim vươn sang trái, thân chim đứng nghiêng. Phía dưới là đuôi và thân chim. Chữ tiểu triện là biến đổi từ chữ giáp văn và kim văn mà ra. Chú thích thuyết văn chép trường vĩ xúc tổng danh dã tượng hình điểu chi túc tự chủy tòng chủy là tên chung cho các loài chim đuôi dài là chữ tượng hình thân chim tựa như cái thìa tức là chữ chủy cho nên viết theo chữ chủy À lời bàn hứa thận căn cứ vào nét bút ở chữ tiểu triện mà nói thân chim từ chữ chủy là không chính xác.
(41:14) Điểu là chữ bộ thủ. Phàm là những chữ được tổ hợp thành từ chữ điểu, đa phần có liên quan đến chim. như là chữ ly là nói chim hoàng ly tức là chim vàng anh. Lộ là con cò, nga là con ngan và ngỗng. Nga là chữ ngã và chữ điểu à kết hợp với nhau thành ngan ngỗng. Chữ thường dùng à bổn điểu tiên phi, nghĩa là chim ngu bay trước.
(41:55) Điểu ngữ hoa phương. Điểu ngữ hoa hương là chim hót hoa thơm. Đây là phần à nói về chữ điểu chúng ta tập viết trước và sau đó sang đến chữ truy. À chữ điểu chúng ta hãy nhìn vào chữ mẫu để chúng ta viết. Đây là chữ điểu chúng ta viết nét phẩy trước, nét ngang rồi sau đó lần lượt các cái nét ngang phía dưới.
(42:25) Và cuối cùng là cái đuôi của con chim là bốn dấu chấm. Giống lúc nãy chúng ta à đã học trước chúng ta đã học bốn dấu chấm ở đây không phải là bộ hóa mà bốn dấu chấm ở đây chính là à đuôi của con chim. Cho nên chữ điểu này cũng tương đối là rõ ràng. À chúng ta khi gặp à đối với chúng ta khi chúng ta gặp những cái chữ nào mà chúng ta thấy có chữ điểu ấy thì chắc chắn là liên quan đến một loài chim nào đó.
(43:02) Một loài chim nào đó chẳng qua là cái tên gọi đọc khác đi thì người ta thêm cái thanh vào đấy để người ta hỗ trợ. Ví dụ như đọc là chữ Nga. Nga chẳng hạn là từ chữ ngã rồi thêm chữ điểu thì cái này là nga chim nga nga. Đấy, ngày xưa ngày nay chúng ta gọi là con ngan hay con ngỗng đều là gọi là nga cả. Đấy, nga thì là ngan hay ngỗng hay là lộ thì là con cò.
(43:41) Ở trên là chữ lộ, ở dưới là điểu. Lấy lộ làm lấy chữ lộ làm âm, làm thanh phù và lấy chữ điểu làm hình phù là để nói đây là con cò. Đấy, con cò. Cho nên hễ mà gặp cái chữ này chúng ta à hễ mà gặp cái chữ mà có chữ điểu này thì chúng ta biết ngay đây là nói về một loài chim hay một loài một loài nào đó giống giống chim để chúng ta à biết được à khi học thì chúng ta nhìn thấy cái chữ thường dùng ấy chính là những cái thành ngữ mà cũng là cái đúc kết trong a à của người xưa để chúng ta học tập Ví dụ ở đây người xưa nói là bổn điểu tiên phi,
(44:28) người xưa hay dùng gọi là chim ngu bay trước. Thì chúng ta thấy thông thường ấy là đây là ý nói cho cho trong đàn chim, những con chim mà nó à thường hay được hay dẫn đầu thì người ta gọi là bổn bổn phiểu bổn bồn điểu tiên phi. bay trước thì có khi gặp thợ săn hay gặp gì gặp loài săn mồi nó săn thì cũng là cũng rất là nguy hiểm.
(44:55) Thì người xưa mới dùng cái câu này để mà à không phải là để mắng con chim mà để nói cho chúng ta phải làm việc gì à cũng phải cẩn thận để phòng. Có những thứ chúng ta ví dụ câu này chúng ta áp dụng trong đời sống hàng ngày rất là hay. Ví dụ chúng ta bước vào một con đường chúng ta không biết con đường này là đường cấm hay là không đường cấm.
(45:16) Chúng ta thấy giả dụ như chúng ta đi thấy một mình một đường trong lòng phải bắt đầu phải lo lắng rồi đấy. Không khả năng là chúng ta đi vào đường cấm vì đường này chẳng thấy ai đi cả hoặc là toàn thấy người đi ngược chiều thôi. Thì thì chúng ta biết là nó liên tưởng đến những câu thành ngữ như vậy để chúng ta học tập. Đây là nói về chữ điều.
(45:37) Tiếp tục chúng ta đọc sang chữ truy. Chúng ta cũng nhìn chữ giáp văn, chữ kim văn. Chữ tiểu triện, lệ thư, khải thư. À chữ điểu chúng ta nhìn thấy rõ ràng đó. Con chim thì có mỏ, có đầu có đuôi rất là dài. Còn sang bên chữ truy của à sang chữ truy thì con cái đuôi nó không còn rõ là dài nữa.
(46:06) À thấy chứ cái đuôi nó hơi hơi cụp cụp vào thì chúng ta sẽ nhìn thấy, chúng ta hiểu rõ cái tượng hình cũng đã khác nhau rồi. Chúng ta cùng đọc. Truy là tượng hình của con chim đuôi ngắn. Chữ giáp văn là hình dạng của một con chim vốn là à cùng một chữ với chữ điểu, không chia ra đuôi ngắn đuôi dài. Phần trên là đầu chim mỏ đang hướng sang bên trái, bên phải là cánh, phía dưới là móng chim.
(46:42) Chữ kim văn, chữ tiểu triện là biến đổi từ giáp văn mà ra. Chú thích thuyết văn chép điểu chi đoàn vĩ tổng danh dã tượng hình là tên chung của loài chim đuôi ngắn. Đây là chữ tượng hình. Truy là chữ bộ thủ. Phàm chữ nào được tổ hợp thành từ chữ truy đều có liên quan đến loài chim như là nhã à tước. Tước là chim sẻ.
(47:22) À tập là liên quan đến chim đậu. Đây là phần miêu tả của chữ truy. Rồi chúng ta tạm dừng hãy nhìn vào chữ mẫu, video chữ mẫu để chúng ta tập viết chữ truy của thề khải thư. Các đồng học hãy tập viết và hãy th nghĩ xem khi chúng ta tập viết chúng ta nhìn thấy có điều khác lạ không. Ở đây chúng ta nhìn qua thì chúng ta tưởng đây là bộ nhân đó.
(47:50) Đây là bộ nhân và chúng ta bắt đầu suy đoán rất nhiều thứ. Nhưng mà thực tế chúng ta học chữ sơ văn thì đây chẳng qua là theo thời gian biến đổi mà thành cái chữ như vậy gọi là chữ truy. Đấy chữ truy. Cho nên là chúng ta học đây thì chúng ta nhìn à bây giờ vẽ lên hình cho các đồng học nhìn thấy con trong chữ giáp văn con chim thì có cái đầu, có cái mỏ này có cái thân đó có cái đuôi nó dài ra và phía trước thì có cái chân.
(48:43) Đây là hình nhà con chim đây. Đây là chữ điểu. Chữ điểu à chúng ta thầy thì vẽ không đẹp lắm chúng ta con chân thì phải nằm ở dưới này mới đúng. Đó chữ điểu à chữ truy thì nó sẽ khác một chút sẽ như thế này. Trên này đâu đây? Đó đây là điểu. Đây là truy. Học hai chữ này để chúng ta có sự phân biệt.
(49:31) Học của một lúc để chúng ta có sự phân biệt nó tương đối rõ ràng. Trong a đối với giáp cốt văn ấy thực ra mà nói trong giáp cốt văn thì đều là nói về con chim cả thôi. Nó không có có không có phân biệt đâu. Nhưng mà đến khi đến tiểu triện đến cái chữ tiểu triện thì mới chia ra mới tách ra thành chữ điểu riêng và chữ truy riêng. Cho nên là dần dần biến đổi sang chữ đến chữ khải thư, chữ lệ thư, khải thư là đã tách ra riêng hoàn toàn rồi.
(50:05) Đã tách ra hoàn toàn truy riêng, chữ điểu riêng và truy riêng. Cho nên chúng ta thấy trong cái chữ a chữ mà chúng ta học là chữ chữ thổ. Bây giờ đây là chữ điểu, chữ truy. Chúng ta hãy xem trong đây là viết chữ tiểu triện, chữ tập. Chúng ta viết chữ tiểu triện à chữ truy. Chữ truy viết như thế nào? Chữ tiểu triện chữ truy thì cũng tương đối dễ nhìn.
(50:59) Đây đây là đầu, đây là mỏ. Rất là dễ nhìn. Đây là cái hình ức chim rồi là cánh chim. Đây là chữ hình dạng của chữ tiểu triện, chữ truy. Chữ trì. Bây giờ cái chữ này thêm một chữ ở dưới nữa. Đây là chữ thủ ở trong chữ chữ tiểu tiểu tiểu triện chữ thủ. Ở dưới là chữ thủ. Thủ nhá. Thủ là như thế này. Đây là chữ thủ. Thủ là gì? Là cánh tay.
(52:03) Chúng ta nhìn xem à truy là chữ bộ thủ. Nếu mà chúng ta thêm một chữ cái cánh tay ở dưới nữa. Một cánh tay, một tay thì nắm được mấy con chim? Một tay thì nắm được một con chim. Chữ này thể khải thư thì viết là như thế này. Viết sang thể khải thư thì nhiều đồng học sẽ nhìn ra ngay. À chữ này chữ gì? Chích. Chích.
(52:37) Đấy. Chữ này là chữ chích. Chích thì là gì? Chích thì nói một cái hay là nói một con chim. Chích là một con chim. Đơn vị dùng để đếm chim. Một tay thì cầm được một con chim thôi. Một tay cầm một con chim. Cho nên ở đây chích là chỉ một con chim. Tay mà cầm một con chim thì đọc là chích à đọc một con chim.
(53:07) Thế ví dụ như mà cái tay mà to ấy mà cầm hai con chim ấy thì sẽ viết như thế nào? Tay cầm hai con chim. Thế thì thêm một con chim vào đây nữa thôi đúng không ạ? Thêm con chim vào đây nữa. Thêm con chim vào nữa. Thì cái bộ tay ở dưới này, thủ ở dưới này. Thế thầy chuyển thành chữ gì? Tay cầm hai con chim thì gọi là song. Song tức là hai tay cầm hai con chim thì gọi là song.
(53:56) Thì đây đây là con chim đuôi ngắn thì dễ t cầm còn điểu thì hơi khó cầm tay thì khó cầm cho nên là người ta lấy chữ chữ truy nhiều hơn. Tay cầm hai đây gọi là xong. Xong thì là gọi là tay nắm hai con chim. Rồi bây giờ thêm một cái ví dụ nữa giờ nh rất nhiều chim. Rất nhiều con chim đậu trên cành cây. Rất nhiều con chim đậu trên cành cây.
(54:32) Một con đây. Hai con ba con ba con chim đậu trên [âm nhạc] cái cây. Ở dưới này là bộ mộc viết bằng à tiểu triện. Chúng ta viết đều viết tiểu thiện cả. Đương nhiên khi viết thì đẹp hơn. Ở đây là thầy viết to ra để cho chúng ta nhìn thấy ba con chim đậu trên cây đúng không? Chim nhiều như vậy à.
(55:25) Nếu như mà viết chuyển sang chữ mà viết thì là gì? Đây là một truy hai. Chữ truy ba chữ truy. Ở dưới này là chữ mộc. Thì bản thân cái chữ này gọi là tập. Bây giờ chuyển thành chữ này chỉ có một con chim đại diện thôi. Ở dưới này là mọc cây. Đây là chữ tập đó tập tập hợp đấy. Tập hợp lại với nhau thì gọi là chữ tập. Đáng lẽ phải viết ba chữ tập, ba chữ truy bên kia.
(56:09) Nhưng bây giờ chẳng thấy tập này thì chúng ta thấy chim mà là ba con chim đậu lên thành rất nhiều cây tập hợp lại bây giờ bay vẫn hai con chim rồi, còn có một con chim thôi. Còn một con chim thì vẫn gọi là cái chữ tộc. Cho nên là à ngày xưa thì không phân biệt đâu à chứ ngày xưa không phân biệt đâu. Chữ điểu điểu hay là chữ chữ tập và chữ điểu hay là chữ truy ấy thì không a không phân biệt.
(56:39) Đến sau này sang chữ tượng hình à sang đến chữ khải thư và lệ thư thì bắt đầu mới phân biệt ra tách ra nhiều. À cho nên chúng ta hiểu được cái ý nghĩa là như thế. Một con chim là gì? Chích tay nắm một con chim. Nhớ chưa? Tay nắm một con chim, một con truy ấy thì gọi là chích. Tay nắm là hai con chim thì gọi là song. Hai chữ truy, ở dưới là chữ hựu.
(57:06) Hựu là cái tay ấy. Hựu là cái tay. Ngày nay thì tay thì nó là thủ nhưng chữ hựu vốn dĩ là cái tay. Tay nắm hai con chim thì chữ xong. Ba con chim mà đậu trên cành hay bây giờ gọi là một con chim đậu trên cành gọi là tập. Chữ tập này chúng ta hay dùng vào chữ tập tập hợp. Hay ví dụ hôm nay chúng ta học tập mấy thì chữ tập này cũng là chữ tập đấy.
(57:32) Như tập 1 tập hai xem phim thấy tập 1 tập hai thì đây cũng là chữ tập này. Đây chúng ta nhớ à đây là chữ điểu và chữ truy. thì chúng ta học sau khi chúng ta nhận biết được à chúng ta biết được chữ gốc, chúng ta biết được chữ căn bản về các thể chữ thì chúng ta thấy mỗi một chữ đều có sự hình thành của nó rất là rõ ràng, không có gì là khó khăn cả.
(58:02) Nên là học chúng ta cảm thấy học chữ Hán cũng không khó lắm. Nếu mà chúng ta không học cái này ấy thì chúng ta học chữ nào biết chữ đó. Học chữ xong sao mà nhiều nét thế? Sao mà khó khăn vậy? Đúng không? Chứ xong xong mà khó khăn nhiều nét vậy. Nhưng mà thực ra nó là gì? Nó là hai con chim. Cái tay cái tay cầm hai con chim là chữ xong là xong rồi.
(58:21) Đó rất đơn giản. Cho nên học sơ văn là nó sẽ giúp cho các đồng học sau này chúng ta à truy ra nghĩa gốc chúng ta học kinh điển rất là dễ dàng. Nên hy vọng các đồng học chúng ta cố gắng học thuộc. Đặc biệt đồng học nào có năng lực ghi nhớ tốt và năng lực viết tốt thì chúng ta nên học tất cả các thể chữ. Đương nhiên riêng cái chữ khải thư thì chúng ta phải tuân thủ quy tắc bút thuận và chúng ta viết được bởi vì thể này là chúng ta dùng nhiều nhất và sẽ dùng trong kinh điển, dùng trong dạy học, dùng trong học tập sau này. Còn những
(58:51) thể chữ khác thì đa phần dùng trong nghệ thuật, vừa dùng trong nghiên cứu là nhiều. À cho nên là à chúng ta học thì chúng ta à thấy chữ Hán rất là thú vị. Hy vọng các đồng học chúng ta à à cứ mang cái tâm thú vị này chúng ta truyền đạt cho những người khác cùng học. Hiện nay chúng ta có video rồi, có chia sẻ rồi có phương pháp rồi, mỗi ngày mỗi chữ, chữ nào cũng được, học một chữ được là cũng là niềm vui rồi.
(59:18) Cho nên là một chữ cũng là tốt. Một chữ học rồi chúng ta có thêm niềm vui của một chữ. Nhưng mà à nhất định phải học từ căn bản để chúng ta đi lên. Hi vọng các đồng học chúng ta cùng nỗ lực, cùng cố gắng. Chúng ta phải làm giống như chữ sĩ như người xưa học. Ngày xưa ấy, thứ tự dạy học của người xưa thứ tự các giai cấp ở trong xã hội là sĩ, nông, công, thương là sĩ là người đi học là đứng đầu.
(59:45) À sĩ nông công thương là người đi học đứng đầu là người có trách nhiệm hoằng dương đạo đức, làm rất nhiều về mặt tinh thần cho xã hội, định hướng lứng hướng đi của xã hội. Xong đấy, nông là gì? là những người làm ra đồ ăn thức uống cho mọi người. Cái vai trò rất là quan trọng là nông.
(1:00:07) Rồi đến với công công là công nghiệp là những làm đến với cái đồ dùng vật dụng và thứ hay là gì bới đến công. Và cuối cùng là thương là thương là xếp sau cùng là kinh doanh xếp sau cùng cũng không được không được xếp đầu tiên. Nhưng mà ngày nay chúng ta hoàn toàn ngược lại đã xếp thành là à thương công nông sĩ, thậm chí là sĩ còn chẳng có chỗ đứng.
(1:00:32) Cho nên chúng ta thấy xã hội ngày nay động loạn bất an chính là từ cái chỗ này. Nên hy vọng các đồng học chúng ta phát tâm làm sĩ, làm bậc chí sĩ, nhân sĩ để chúng ta học tập chữ, học tập văn hóa truyền thống, học tập kinh điển để chúng ta có thể giúp đời, giúp đạo, giúp chính mình và giúp xã hội.
(1:00:54) À bài học ngày hôm nay chúng ta tạm dừng ở đây. Buổi sau chúng ta sẽ tiếp tục học sang chữ hổ. Xin cảm ơn tất cả các đồng học. [âm nhạc]

Thuật ngữ trong bài

虫 Trùng
鼠 Thử
燕 Yến
隹 Chuy
鳥 Điểu