Học tập: HÁN TỰ NHẬP MÔN – Bài 4 – Lục Thư | Thầy Hoàng Anh Việt chia sẻ
Transcript:
(00:00) [âm nhạc] Xin kính chào tất cả quý vị đồng học. Xin mời ngồi. Xin mời mở sách trang số 22 phần lục thư và các ví dụ. À chúng ta đã xong cái phần giới thiệu. À từ bây giờ chúng ta bước vào phần lục thư. Lục thư là sáu cách tạo nên à chữ Hán. Chúng ta học chữ Hán thì chúng ta biết chữ Hán có lục thư.
(00:52) Khi mà nhắc đến lục thư thì chúng ta phải biết sáu cách tạo nên chữ Hán là gồm à những cách nào? À thứ nhất là tượng hình, thứ hai là chỉ sự, thứ ba là hội ý, thứ tư là hình thanh, thứ năm là chuyển chú, à thứ sáu là giả tá. Khi chúng ta học tập hoặc chúng ta nghe kinh điển à thường hay nghe các bậc sư trưởng nhắc đến chữ này là chữ hội ý thì chúng ta biết ngay là chữ này là chữ hợp một số chữ để tạo thành một chữ mới hợp ý nghĩa lại với nhau. Đây là chiếc hội ý.
(01:43) Khi chúng ta học tập à trước khi vào phần à học chữ, viết chữ thì chúng ta cần lưu ý một điểm. Người xưa vẫn dạy chúng ta cầu học vấn thì phải cầu chữ chân, tức là cầu cái sự chân thật. lúc nào chúng ta cũng phải luôn đặt mình vào trong tình trạng là truy tìm được cái chân thật ở trong nghĩa ngữ, ở trong câu từ này như thế nào.
(02:18) Thế thì ngay cả cái cuốn sách mà chúng ta xem là cái cuốn từ điển đầu tiên là cuốn thuyết văn giải tự à chúng ta cũng vẫn phải đặt luôn đặt câu hỏi luôn phải xem cái sự thật nó như thế nào và cách chúng ta học tập thì chúng ta luôn tư duy như thế thì chúng ta sẽ nhớ được lâu và nhớ được một cách chính xác khi học Hán tự nhập môn Thì chúng ta sẽ cũng từ những chữ căn bản này chúng ta học cách tra thuyết văn giải tự, học cách tra chú giải của đoàn ngọc tài để chúng ta biết được người xưa chú giải cái chữ này như thế nào. À đối
(03:06) với những đồng học mà chúng ta có năng lực về à chữ rồi thì chúng ta có thể đi phần này. Còn đối với những đồng học mới thì chúng ta học cách thật thà nghe lời, tức là học cách viết chữ trước, viết chữ trước, học ý nghĩa của người xưa đặt ra. Sau đó đến lượt thứ hai, lượt thứ ba chúng ta học tập thì chúng ta khi mà chúng ta có năng lực sâu hơn về văn tự thì chúng ta có thể đọc được thuyết văn giải tự.
(03:41) Chúng ta sẽ đi sâu hơn một tầng nữa. Ví dụ như chúng ta trong thuyết văn giải tự ví dụ như có một bộ thủ gọi là bộ huyên là viết như thế này. Đây là bộ huyên. Như vậy bộ Huyên này là một bộ thủ ở trong thuyết văn giải tự 540 bộ thủ. Sau bộ huyên này, ví dụ như chúng ta nhìn thấy cái chữ cấu tạo từ bộ huyên này.
(04:15) Ví dụ như là chữ khốc. Đây là chữ khốc. Chữ khốc. Khốc chính là khóc. Đấy, khốc là khóc. Thì chúng ta thấy chữ này nếu mà nhìn qua thì nhừ bộ huyên và có ở trên là có huyên, ở dưới là có khuyển. Đây là chữ khuyển. Vậy thì chúng ta phải đặt luôn đặt câu hỏi tại sao chữ này lại là chữ không? Đ thế thì ở trong a thuyết văn giải tự có ghi ghi chép là khốc ai thanh dã tòng huyên ngục tỉnh thanh.
(05:18) Ở đây có nói là nghĩa là gì? Chữ khóc là từ à là nghĩa là tiếng a tiếng khóc ai oan đấy là tiếng khóc đấy. Tiếng khóc buồn đấy. Và chữ này được tạo thành chữ huyên và chữ giản thể à chữ giản nét của chữ ngục. Và chúng ta nghe đến đoạn này thì chúng ta sẽ thấy nó bắt đầu nghi ngờ thì chúng ta sẽ bắt đầu chữ ngục tại sao lại cuối cùng lại thành giản nét lại trên chức khuyển thì chúng ta lại đặt nghi ngờ. Đấy.
(05:50) Đấy là ví dụ như chúng ta luôn đặt nghi ngờ để lát nữa sẽ nói thêm cho Đồng Ngọc. À tiếp theo ví dụ như là chúng ta thấy chữ chữ da chẳng hạn. Gia có nghĩa là nhà. Đây là chữ da. Chữ da này là từ ở trên này có chữ miên, ở dưới là có chữ thủ. Miên là mái nhà, thủy là con heo. Thế tại sao mà người xưa lại lấy cái máy nhà ở dưới con heo để đặt cho cái nhà của mình lại đặt câu hỏi? Chúng ta phải thường xuyên phải có những câu hỏi như thế để chúng ta phải tìm được cái cái gốc của vấn đề.
(06:46) Đấy chúng ta ví dụ như đây là cách mà ông Đoàn Ngọc Tài khi mà chú giải cái cuốn thuyết văn thể tự ấy là ông luôn đặt câu hỏi như thế. Bởi vì chúng ta biết là Hứa Thận khi mà soạn ra cái bộ thuyết văn giải tự đa phần cái chữ đều dựa vào chữ truyện văn, chữ tiểu triện mà ông ấy không biết được cái gốc căn bản, cái gốc từ xưa ví dụ thời đó chưa có khai quật về giáp cốt văn cho nên cái chữ về giáp cốt văn thông tin rất là ít, tư liệu rất là ít nên việc à giải nghĩa ở cái chữ này cũng là suy đoán của Hứa Thận mà thôi.
(07:22) Cho nên ở đây chúng ta thấy ví dụ như là chữ khốc. Chữ khốc ở trên ấy là tượng hình cho cho cái chữ huyên. Chữ huyên thì chúng ta biết huyên ấy ở trong a ý nghĩa của nó là nó gọi là những cái ồn ào huyên náo. Những cái tiếng ồn ào tạo ra. Chúng ta thấy đây là hai bộ khẩu. Hai bộ khẩu nó ồn ào. Thế tại sao ở dưới đúng là khóc thì ồn ào thật nhưng mà tại sao ở dưới lại là bộ khuyển? Tại sao ở dưới lại khuyển? Cho nên chúng ta thấy vốn dĩ là cái chữ mượn ngày xưa ấy là tiếng chó kêu nó ồn ào.
(08:11) Sau này người ta lâu ngày người ta dùng ấy mượn thành tiếng mượn thành tiếng người người kêu người khóc. Lâu dần mượn rồi cũng để nguyên cái chữ đấy. Đáng lẽ nếu đúng như theo nguyên tắc tạo chữ thì ở dưới phải dùng bộ nhân mới đúng. Không thể dùng bộ khuyển được. Thế nên chúng ta thấy lâu ngày mượn lâu ngày không trả thì thành thành chữ luôn.
(08:35) Cũng giống như ngày xưa ấy, bản chất là gì? Cái chữ chữ da của chúng ta đang viết ở trên bảng. Chữ da chúng ta nhìn ban đầu tạo chữ, chữ da này ấy chúng ta phải hiểu ban đầu tạo chữ chữ da này là nói về chuồng heo, không phải là nhà người đâu. Cái gốc của nó là chuồng cho con heo ở. Lâu ngày chảy tháng khi chúng ta con người ngày xưa con người ở trong hang trong hang thì ấm áp hơn hang hốc thì ấm áp hơn heo thì động vật nuôi thì phải để ở ngoài chuồng cho nên chữ thủ à chữ chữ gia đấy ban đầu là để nhà cho heo ở đến
(09:20) sau này con người chuyển ra ngoài ở nhà lợp mái thì cũng lấy chữ da này mượn chữ da này làm chữ nhà lâu ngày trầy tháng chữ gia này thành chữ da nhà cho người ở nấy chúng ta khi chúng ta học tập thì chúng ta phải như thầy thầy họ đoàn đo khắc hùng thầy thầy hùng ấy thầy lưu khắc hùng thầy mới nói chúng ta khi học tập thì chúng ta nên can đảm đặt câu hỏi và tìm cho ra nguyên nhân đấy rất hay như thế khi tìm ra nguyên nhân rồi chúng ta nhớ rất là lâu, nhớ rất là lâu cái nghĩa ngữ như thế này.
(09:56) Đây là thầy nói là à tất cả đều phải có căn cứ cả. Không phải cái không phải ngẫu nhiên đâu. Không phải là ngẫu nhiên mà chúng ta có chữ như vậy đều có căn cứ có thể là mượn từ lâu không trả, có thể là tạo từ như thế nào đó nó đều có gốc gác của nó. Nên chúng ta học tập và tuần tự chúng ta từ đây chúng ta sẽ học à lần lượt lục thư à sáu phép tạo thành.
(10:23) Vậy tại vì sao học lục thư? Bài học bắt đầu từ tượng hình. Về tượng hình là những cái ban đầu khi mà tạo ra chữ thì con người nhìn hình tượng xung quanh để vẽ ra cái hình vẽ đấy tạo thành chữ. Mời đồng học chúng ta đọc phần tượng hình. Một tượng hình lời tựa thuyết văn giải tự chép rằng chữ tượng hình là vẽ thành hình.
(10:55) của vật ấy tùy theo uốn lượn chữ nhật, chữ nguyệt là ví dụ. Tượng hình chính là y theo đường viền của vật thể, dùng đường nét vẽ ra hình dáng của vật thể, ví dụ như chữ nhật, chữ nguyệt vân vân. Chứ tượng hình có nguồn gốc từ những chữ vẽ, từ những hình vẽ nguyên thủy trải qua thời gian tương đối dài, rồi đơn giản hóa, thông tục hóa những hình vẽ đó.
(11:26) Dần dần so với những vật ban đầu thì không còn thật sự rõ ràng. Lấy chữ vạn làm ví dụ. Đ đọc đến đoạn này thì chúng ta sẽ thấy nói về chữ tượng hình. À tiếp tục lấy chữ vạn làm ví dụ thuyết văn chép rằng vạn trùng dã tùng nhữu tượng hình. Nghĩa là chữ vạn là một loại côn trùng xuất phát từ chữ nhữu là chữ tượng hình. Giáp cốt văn của chữ vạn.
(12:06) Hình vẽ của nó chính là vẽ hình một con bò cạp. Bởi vì nó sinh ra cực kỳ nhiều, mỗi bào thai có hàng trăm con. Hơn nữa, bọ cạp con sau khi sinh ra thì tự động bám lên thân của bò cạp mẹ, nhung nhúc dày đặc, không thể tính được số lượng. Cổ nhân vì mượn hình ảnh số lượng cực kỳ nhiều là vạn của ngàn vạn để tạo ra chữ này.
(12:34) Chữ vạn mà ngày nay dùng đã không còn nhìn thấy nghĩa gốc của chữ vạn nữa. Thế nhưng suy ngược về lúc mới tạo ra chữ viết thì nhất định là giống với vật gốc. Con người nhìn vị trí của vạn vật không ngoài năm cách. Thứ nhất là ngước lên xem. Thứ hai là cúi xuống nhìn. Thứ ba là nhìn trực diện. Thứ tư là nhìn theo. Thứ năm là nhìn bên cạnh.
(13:03) Khi tạo chữ bởi góc độ quan sát khác nhau giữa người và vật cho nên phải chú ý đến vị trí lấy để tượng hình khi tạo chữ. Ví dụ như chữ nhật mặt trời, chữ nguyệt mặt trăng, chữ vân là mây, vũ là mưa là do ngước lên xem mà hình thành nên chữ nên chữ tượng hình. Chữ điền ruộng, chữ thủy, nước, xuyên, sông hay tỉnh giếng đều là do cúi xuống nhìn mà thành chữ.
(13:34) Chữ sơn, núi mộc cây khẩu miệng đại lớn là do nhìn thẳng mà vẽ ra chữ. Chữ ngưu, trâu, dương dê, thỉ à mũi tên, yến, con chim én là do nhìn trực diện mà hình thành nên chữ tượng hình. Chữ nhân, chữ điểu, chữ mã, chữ tượng là do nhìn bên cạnh mà vẽ thành chữ tượng hình. Những chữ này đều cho thấy rằng chữ tượng hình được vẽ từ góc độ khác nhau, còn đối với những chữ tượng hình có sự thay đổi từ ngang sang dọc cũng không ngoài năm loại phương pháp này.
(14:12) Ví dụ như chữ xa, xe, qy, là rùa đều là nhìn ngang. Sa nhìn theo mà vẽ thành, quy rùa là nhìn từ bên cạnh mà vẽ thành. Các ví dụ trên đây có thể nói là thuần túy nhìn theo gốc. hình gốc mà vẽ ra. Về mặt hình thể không có gì thêm bớt. Chúng ta gọi là tượng hình thuần thể cũng gọi là chính lệ hay là chính thể.
(14:41) Tượng hình ngoài thuần thể ra thì còn bao gồm tượng hình biến lệ, tức là tượng hình biến thể. Biến thể thì có hai loại. Một là tượng hình tăng thể. Đó là những chữ tượng hình mà chỉ riêng chúng không thể biểu thị rõ hết những thứ nó là gì, cần phải thêm vào hình thể bất thành văn khác để bổ sung.
(15:07) Ví dụ trong chữ quả thì hình dung cái phần bên trên là hình bất thành văn, phần chữ mộc ở dưới là tượng hình đã thành văn. Hai phần kết hợp với nhau trở thành chữ quả hay là chữ thạch. Hình à tròn bên cạnh là bất thành văn. Hình chữ Hán là tượng hình đã thành văn, cả hai kết hợp với nhau thành chữ thạch. Loại chữ này biểu thị ở chỗ những phần tăng thêm bên ngoài hình thể.
(15:35) Hai là tượng hình tỉnh thể, biểu thị chỗ có sự giảm bớt ở bên trong hình thể như chữ điểu là chim à là chữ tượng hình đã thành văn, giảm bớt đi một số một dấu chấm biến nó thành chữ O, có nghĩa là con quạ. biểu thị là quọ đen à toàn thân quọ màu đen ngay cả mắt cũng không nhìn thấy. Tiên sinh Hồ Phát An đã thống kê trong thuyết văn giải tự chữ tượng hình có 364 chữ, loại trừ đi các chữ không thuần túy thì vẫn còn 242 chữ.
(16:09) Lại loại trừ tiếp những chữ lặp lại và những chữ được chuyển hóa từ cùng một hình thể thì còn lại hơn 100 chữ chiếm chưa đến 1% số chữ Hán hiện nay. Phần đọc này hơi dài nhưng mà đồng học chúng ta vẫn phải nghe bởi vì đây là cái phần gốc của tác giả viết ra. À chúng ta nhìn một chút. À ví dụ như chúng ta nhìn chữ này ở đây lấy ví dụ về chữ tượng hình.
(16:45) Ví dụ như là chúng ta nhìn thấy chữ này [âm nhạc] là cái chữ a mô tả về À chữ mộc, chữ khải thư của chúng ta viết là như thế này. Đây là chữ mộc. Mộc là cây. Đấy. Bây giờ thêm cái chữ này. Bây giờ ví dụ cây này là cái hình đã thành văn. Bây giờ thêm vào một cái phần phía trên nữa là cái phần này.
(17:52) Đó. Thầy tạo thành chữ quả. Đây là chữ tượng hình tăng thể. Đây là chữ tượng hình gốc còn đây là chữ tượng hình tăng thể. Cái phần trên này chúng ta gọi là phần bất thành văn. À như hôm trước có chia sẻ đồng học cái chữ này cái phần trên này chúng ta lưu ý khi chúng ta học chúng ta đang học là học chữ sơ văn.
(18:26) Thế thì chữ sơ văn này là chữ tượng hình. Tượng hình tức là đã tạo thành hình. Vậy thì không có nghĩa là nó tạo từ một chữ khác. Nó chỉ là thêm một cái bộ phận nào đó thôi, tăng thể thêm thôi. Thế thì cái phần này nếu như mà để độc lập thì chúng ta nghĩ ngay nó là chữ điền. Nhưng mà thực tế đây không phải là chữ điền mà đây là cái phần tăng thêm bất thành văn để tạo nên chữ quả. Đấy gọi là tượng hình tăng thể.
(18:55) có nghĩa là ở đây à lấy cái cây cái mộc làm cái tượng cái chữ gốc cái tượng hình gốc xong vẽ thêm hình cái quả ở trên đấy nữa thì gọi là quả mọc ở trên cây thì mới tạo thành chữ quả như thế này. Thì đây là cái cách của người xưa tạo ra một cái chữ tiếp theo ví dụ như ở trong cái phần thầy à Lưu Khác Hùng có lấy ví dụ cho chúng ta.
(19:20) Ví dụ như là à thầy có lấy ví dụ cho chúng ta chữ chữ điểu chẳng hạn. Chữ điểu điểu bây giờ à vẽ một con chim. Vẽ một con chim thực ra là chúng ta vẽ thì nó sẽ không được đẹp lắm. N đây chúng ta vẽ theo hình ở trong trong sách chữ điểu chữ điểu. Ví dụ như là trong hình vẽ trong sách sẽ vẽ như thế này. Mô tả chúng ta rất là kỹ hình con chim đó.
(20:11) có cánh đây. Ở phía dưới thì tạo thành cái hình con chim thật sự có những cái cánh như thế này. Và ở dưới này là có cái chân của chim. Đây là tạo thân hình một con chim. Chúng ta thấy con chim nhá. Đấy. Người xưa vẽ hình là như thế này. Cái này uốn vào một tí nữa thì sẽ giống hơn. Đây là chữ à giáp cốt mà tạo ra hình con chim.
(20:39) Chúng ta thấy tương đối giống con chim. Mặc dù mà Việt vẽ thì hơi xấu nhưng mà cũng tương đối giống con chim. Thế thì con chim này ấy à dần dần đây là chữ này là thuộc về chữ tiểu triện. Gần với chữ tiểu triện. Thế con chim này đây là chữ điểu. Chữ điểu viết như thế này. Đây là chữ điểu. Chữ điểu. Vậy thì với chữ điểu này chúng ta nhìn thấy ở đây là à vẽ xuống đây một tí rõ chữ điểu chữ điểu này bây giờ chuyển sang người xưa ấy bỏ đi cái mắt.
(21:42) Đây là gọi là tượng hình à giản thể đấy. Tượng hình tỉnh thể đấy. Bỏ đi. Mắt là mô tả cái gì ạ? Ngày xưa có một con quạ. Quả đen. Quả đen chúng ta nhìn thấy con quả đen con chim ấy mà quả màu đen mà nó đen mà mắt nó cũng đen. Cho nên con chim không thấy mắt nào thì người ta mới tượng hình lấy chữ điểu này xóa đi cái mắt của nó. Thế là xóa luôn bên này.
(22:08) Ví dụ xóa luôn con mắt này. Thế là chữ này là chữ gì? Chữ này là chữ O này. Chữ này là chữ O đấy. Con chim không có mắt, không nhìn thấy mắt chứ không phải không có mắt. Không nhìn thấy mắt của nó nên tạo thành chữ O. Đây là à cách mà ngày xưa tạo nên chữ à tượng hình. Thế thì quay lại à chúng ta học tập. Trước khi chúng ta bước vào từng phần một, chúng ta nhìn thấy người xưa tạo chữ rất là hay, đều có quy tắc cả, đều có nguyên tắc ở trong đấy.
(22:45) Thế thì chúng ta học tập thì chúng ta phải nhớ à khi học tập thì trong sách của thầy ấy bao giờ cũng để cho chúng ta các cái chữ từ lịch sử hình thành cho đến hiện tại đang dùng là như thế nào. Ví dụ thầy bao giờ cũng trên hình ảnh trong sách chúng ta học tập bao giờ cũng có chữ giáp văn. Giáp văn tức là chữ giáp cốt văn.
(23:14) Sau đó sẽ đến kim văn. Kim văn. Sau đó sẽ đến phần triện thư. Chữ tiểu triện hoặc là chữ chứ văn đều gọi là truyện thư thì thường hay để là tiểu triện. Tiểu triện đó tiểu triện. Rồi đến một cái thể chữ sau này vẫn được thường hay dùng. Chúng ta nhìn trong các chùa triền và nhìn ở trong cung đình ấy là cái thể chữ gọi là lệ thư.
(24:01) Lệ thư và cuối cùng là thể chữ chúng ta đang dùng thông dụng ngày nay gọi là chữ khải thư. Đây là những cái thể chữ mà thầy thường hay dùng ở trong a trong sách của chúng ta đang học. Thì thông thường chúng ta học thì chúng ta nên học tất cả những cái loại hình như thế này. Mục đích của chúng ta là để chúng ta biết được cái quá trình hình thành của chữ như thế nào, lịch sử hình thành của nó ra sao, biến đổi qua các thời kỳ như thế nào để chúng ta biết được là chữ ngày nay và chữ ngày xưa sẽ có sự khác nhau nhất định thông qua cái
(24:50) sự biến đổi. Giống như chúng ta học chữ đầu tiên là chữ vạn thế chúng ta nhìn cái chữ vạn ngày nay chúng ta sẽ không nhận ra so với cái chữ vạn của ngày xưa nữa. Chữ vạn ban đầu nữa. Không thấy nhìn thấy tượng hình con bò cả. Nói thì chúng ta có thể mường tượng ra nhưng mà nếu nhìn chúng ta nhìn ngay ở phía trên đó là chữ bộ thảo đầu.
(25:11) lát nữa chúng ta sẽ học đồng học sẽ nhìn thấy. Cho nên là chúng ta học tập thì chúng ta cần phải biết đối với những cái phần trên này gọi là à hình của chữ. Chúng ta đang học chữ thì được kết hợp từ hình, âm và nghĩa. Những cái cách viết trên này gọi là hình của chữ. Còn âm của chữ thì tùy theo dân tộc có cách đọc khác nhau.
(25:42) Ví dụ như người Trung Quốc thì đọc chữ điểu đọc là niểu. Còn chữ còn người Việt Nam chúng ta đọc là điểu. Đây là do âm đọc của mỗi dân tộc có sự khác nhau. Còn thứ ba là nghĩa. Nghĩa thì có lẽ không khác gì nhau. cùng lắm theo dân tộc thì sẽ bổ sung thêm mượn chữ mượn để bổ sung cho à cho cái ngôn ngữ của dân tộc đó.
(26:14) Ví dụ như chữ nôm của chúng ta mượn chữ chi làm chữ gì chẳng hạn. Đây là cái gì? Đây là cái chi. Ví dụ như vậy. Vậy thì khi chúng ta học thì chúng ta phải biết là à giáp cốt văn đó là chữ viết trên mai rùa hoặc là viết ở trên xương bả vai của con bò của con trâu. Và chữ này thường là viết rất là khó cho nên là chúng ta thường thấy cái nét của nó sẽ không được tròn chịa mà hay là vạch vạch vạch vạch.
(26:49) Nó rất là nhiều cái nét thẳng. kết hợp với nhau. Cái thứ hai là chúng ta học sang kim văn. Kim văn là văn tự được khắc trên các cái đồ đồng ở cái thời đại thương chu ấy. Người xưa gọi đồng là kim cho nên là sau này gọi cái chữ này là chữ kim văn. À chữ đại triện hay chúng ta gọi là các cái chữ triện thư. Ấy đại triện là bắt đầu được dùng vào cuối thời Tây Chu ở bên Trung Quốc và người ta tương truyền thì nó tạo ra bởi Thái sử ở thời Chu Tuyên Vương.
(27:25) Ấ còn chữ mà chúng ta vẫn thường hay nhìn thấy phổ biến nhiều hơn là chữ tiểu triện. Nhưng cũng như trong sách các cái chữ đây thầy Lưu Khoang Hùng thầy sưu tập vào thì có cái chữ tiểu triện. Chữ tiểu triện là cái thể chữ mà được Tần Thủy Hoàng lựa chọn làm cái văn tự chính thống. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc thì ông chọn cái thể chữ tiểu triện này làm cái thể chữ làm văn tự thống nhất.
(27:56) Cho nên là à vào đối với cái chữ viết tiểu trện này ấy thì thời xưa không dùng cái thanh đậm mà đều dùng một nét bút thống nhất. Tất cả các độ rộng đều như nhau, không khác gì nhau. Cho nên là các chữ đều có chung một kích thước, chữ viết đều có chung một độ rộng như vậy. Tiếp theo là cái thể chữ Lệ Thư. Lệ Thư thì được à từ thời nhà Tần ấy được chia thành Lệ thư của nhà Tần và Lệ thư nhà Hán.
(28:28) Gọi là Tần Lệ và Hán Lệ hai khác nhau. À Tần Lệ là kiểu viết nhanh và tương đối cầu thả của cái chữ tiểu triện. tiểu triện thì nó viết nhanh hơn một chút thành thành chữ chữ Lệ thư của nhà Tần. Còn Hán Lệ là cái chữ viết chính thức được viết vào thời Đông Hán. Thì những cái phần này chúng ta có thể tra cứu các cái mẫu chữ rất là rõ ràng. Ngay cả trong phần học của chúng ta, trong quyển sách của chúng ta cũng ghi các mẫu chữ chúng ta nhìn thấy rất là rõ. Mẫu chữ lệ thư rất là rõ ràng.
(29:00) À còn đối với chữ khải thư, khải thư là thể chữ có kể từ khi từ thời nhà Hán. À chữ Hán từ khi mà có cái thể chữ Khải Thư ấy thì nét chữ đã định hình rồi. Nét chữ định hình và từ đó chữ Khải Thư trở thành thể chữ à của chữ Hán thông dụng hiện đại ngày nay. Chúng ta bây giờ dùng viết chữ đều là dùng chữ khải thư này.
(29:29) Còn thông thường những cái tác phẩm nghệ thuật hoặc là những cái phần liên quan đến à nghiên cứu về cổ văn thì mới dùng đến các chữ các cái thể chữ như là à tiểu triện hay đại triện là mà chúng ta thấy. Còn thể chức khải thư ngày nay thì có thanh có đậm có dùng cái bút lông viết là tùy theo cái lực bút của mình tùy theo nét bút của mình mà sẽ khác nhau.
(29:56) À tiếp theo một cái thể chữ mà chục thầy không đưa vào trong này mà chúng ta cũng nên biết đó là hành thư. Hành thư hành là tương đối là thông dụng. Hành thư. Hành thư là cái thể chữ rh giới giữa Khải thư và thảo thư. Thảo thư là có một chữ nữa gọi là thảo thư. Thế thì thảo thư ấy là giống như chúng ta gọi là viết láu.
(30:27) Ấ thảo thư là cái chữ viết láu, viết nhanh để tạo thành gọi là chữ thảo. Đấy, viết láu viết nhanh. Thường thì chữ thảo thư những người mà không phải à học chữ Hán sâu rộng thì chúng ta gần như rất là khó đọc, không hiểu được. hoặc chỉ có những người học chữ Hán sâu rộng rồi nét bút đi như thế nào, chữ này ra làm sao thì người ta có thể đoán ra được.
(30:49) Nhưng về cơ bản là đã là thảo thư ấy thì tương đối khó đoán, hành thư thì dễ hơn một chút. Cho nên là thông dụng nhất là vẫn dùng chữ khải thư. À cho nên thảo thư là là à căn bản là dùng trong cái thuận tiện trong cái trong việc viết mà sinh ra thôi. Thực ra nó mang tính nghệ thuật là chính.
(31:12) Đối với chữ thảo thư thì mang tính nghệ thuật là chính. Cho nên chúng ta nhìn thấy chữ Hán nó biến đổi theo nhiều hình thái khác nhau như vậy. Chúng ta đều phải hiểu à đều phải biết để chúng ta khi gặp những cái cách viết khác nhau thì chúng ta biết ngay chữ này là viết theo cái thể chữ nào để chúng ta học dần qua cái nhập môn.
(31:37) Bởi vì cái môn học nhập môn Hán tự của chúng ta là nhập môn rất nhiều rất nhiều cái mục đích. Thứ nhất là chúng ta nhập môn vào chữ Hán. Thứ hai chúng ta cũng nhập môn cũng học cách nhất môn thâm nhập. Tức là ở trong chữ Hán này chúng ta vàu đi vào lại chúng ta nghiên cứu đi nghiên cứu lại đặt ra câu hỏi và chúng ta tra cứu từ điển.
(32:03) Chúng ta học tập thì dần dần lâu ngày nó tạo thành một sức định ở trong cái việc học tập của chúng ta. Như thầy nói là đối với người mà biết chữ ấy thì sau này có khi thuyết văn dùng thuyết văn giải tự chúng ta khoanh tròn đến năm lần thì là chúng ta có thể gọi là tương đối thâm nhập. Hai ba lần thì chưa được.
(32:23) Có nghĩa là tra cứu rất là nhiều. Tra cứu nhiều tra cứu nát quyền từ điển thì chúng ta mới thành thục được. Nhậ cái nhập môn thứ ba mà chúng ta hướng tới đó là chúng ta nhập môn về cách viết. Nhập môn về cách viết chữ như thế nào, các thể chữ viết ra sao và chữ thường dùng mình là chữ khải thư thì phải viết thế nào? Phải tập vào cũng là gọi là nhập môn bước đầu vào.
(32:46) Và thứ tư là nhập môn về nghĩa. Thì đối với cái chữ này thì cái nghĩa ban đầu mình hiểu là như thế nào? Đế sau này khi chúng ta đọc kinh điển, chúng ta nghe pháp, nghe Phật pháp hoặc chúng ta nghiên cứu về kinh điển Thánh Hiền thì chúng ta thấy nghĩa nó còn rộng hơn nữa, có cái nghĩa nó còn rộng mênh mông hơn thì lúc đó chúng ta sẽ sẽ tự có khả năng năng lực chúng ta phân biệt ra.
(33:11) Nên đây là nói với các đồng học về các thể chữ. Tiếp theo khi học tập thì chúng ta phải lưu ý à phương pháp học tập của chúng ta. Chúng ta học tập thì phải luôn luôn để ý, phải luôn luôn để ý cái phương pháp của chúng ta. học chữ thì phải luôn luôn bao gồm chữ thì có hình, có âm và có nghĩa. Đây là cách học của chúng ta phải luôn luôn để ý như vậy.
(34:05) Đối với chữ thì chúng ta khi học thì chúng ta phải nhìn vào sách. Nhìn vào sách phân tích xem chữ này các thể chữ như thế nào, hình thành như thế nào. Và cuối cùng là chúng ta phải tập viết được cái chữ khải thư. Đối với các đồng học mới à đồng học mới thì chúng ta à sẽ tập viết bằng chữ khải thư.
(34:31) À chúng ta chỉ nhìn qua những chữ về giáp văn, kim văn, tiểu triện, lệ thư chúng ta tham khảo thôi. Còn chúng ta học lệ thư, học khải thư trước. Sau này chúng ta có điều kiện quay lại học tập sâu hơn một chút nữa thì chúng ta học kỹ hơn các thể chữ này. Thế thì khi tập viết chữ Khải Thư thì chúng ta như hôm qua nói cái tính đặc biệt của chữ Hán là gì? Là tất cả cái tính toàn vẹn của nó đều nằm trong ô vuông.
(34:56) Chữ Hán là đều nằm trong một ô vuông. Kết cấu của nó không ra khỏi ô vuông của chúng ta. Cái ô vuông này à một chữ Hán có thể cấu thành từ hai phần hoặc ba phần. Còn cấu thành từ bốn phần trở lên là gần như rất hiếm thấy. Cho nên là hai phần, ba phần là chúng ta có thể hiện được hay thế.
(35:24) Cho nên là chúng ta học chữ thì chúng ta khi viết chữ thì chọn vở ôi. Chúng ta lưu ý tập chữ thì chúng ta chọn vở ôi. Ví dụ như vở này, vở ôi này A4 vở rộng và trong vở ôi này chia rất nhiều ô khác nhau. Chúng ta thấy chia rất nhiều ô khác nhau như thế này. Vậy thì khi chúng ta mới bắt đầu học thì chúng ta phải viết chữ to không được viết chữ nhỏ.
(35:53) Viết chữ to thì mới rõ được cái hình của chữ. Nếu viết chữ nhỏ thì chúng ta hay suy đoán hình của chữ và dẫn tới chúng ta sẽ mất đi cái gốc viết chữ ban đầu. Cho nên khi viết thì chúng ta ô chữ to chúng ta sẽ chia thành thông thường chúng ta sẽ chọn 3 x 3 tức là 9 ô đấy. 3 ô ngang 3 ô dọc là 3 x 3. 3 x 3 chúng ta chọn cái này để chúng ta học tập.
(36:23) Đương nhiên trước khi chúng ta học tập vào chữ viết thì chúng ta phải nên luyện qua những nét cơ bản. Nét ngang viết như thế nào, nét sổ viết như thế nào, nét móc viết như thế nào. Chúng ta tập dần cho quen tay. Quen tay rồi vào chữ viết chúng ta mới không luống cuống. Cho nên học tập thì phải xem trọng thứ tự. Thứ tự học đúng thì chúng ta sẽ học rất là nhàn nhã, vất vả một chút thời gian ban đầu luyện cái nét cơ bản.
(36:53) Nhưng mà khi quen tay rồi chúng ta vào viết chữ, chúng ta sẽ uốn nắn dễ hơn rất là nhiều. Như vậy với ô3 x 3 này chúng ta sẽ bắt đầu chúng ta tập viết từng chữ từng chữ một của thể chữ khải thư. Khi chúng ta tập viết thì chúng ta nên luôn luôn sẵn sàng. Bút của chúng ta nên sử dụng là bút chì 8B ngòi mềm. Ngoài này cũng rất dễ gãy.
(37:24) Cho nên đồng học chúng ta khi viết thì chúng ta cũng tập cách đặt cầm bút nên cầm bút thẳng. Cầm bút thẳng vở để ngay ngắn. Trong đệ tử quy dạy chúng ta là à sách vở phải để ngay ngắn, bút nghiê cũng phải ngay ngắn. Cho nên chúng ta tập viết bút chì sau này chúng ta cầm bút lông cũng sẽ viết thẳng.
(37:47) Nên bút chì chúng ta cầm bút viết thẳng mỗi nét chữ chỗ nào nét nào đậm thì chúng ta ấn bút xuống sâu một chút. Nét nào thanh thì chúng ta nhẹ cái lực một chút. Thời gian đầu chúng ta chưa quen nhưng lâu ngày chầy tháng chúng ta sẽ quen. Đó là từ cái nét cơ bản. Lúc nào chúng ta nhìn thấy nét đậm thì chúng ta ấn bút xuống một chút thì nét sẽ tự đậm.
(38:10) Chúng ta cần nét nó phết chúng ta phẩy một cái thì nó sẽ phết. tạo thể hình rất là đẹp. Cái thể chữ à vào hình khải thư à rất đẹp. Như vậy chúng ta tập viết từ bút chì sau này chuyển sang bút lông rất là dễ. Ví dụ ở đây chúng ta lên trên này một số chữ mà Việt cho một số đồng học tham khảo. Thì đây là cái chữ viết ở trên ô 3 x 3.
(38:33) À mỗi chữ đều là như thế cả. À chúng ta viết đều đặn cứ trước khi viết thì chúng ta căn đúng 3 x 3 chúng ta viết. Và khi học thì trong video này chúng ta cũng sẽ đính kèm luôn ở phía cuối à cái mỗi chữ chúng ta sẽ có cái chữ mẫu theo một chữ mẫu chuẩn tắc. Chúng ta nhìn xem cái à cái chữ mẫu đấy viết như thế nào, thứ tự nét bút ra sao.
(38:59) Chúng ta y theo đó chúng ta học. Nguyên tắc là trước khi chúng ta học chúng ta vẫn phải thuộc được quy tắc bút thuận. Quy tắc bút thuận phải viết nét nào trước, nét nào sau. Sau đấy xong vào trong quá trình chúng ta lại bắt trước. Đúng chữ giáo người xưa dạy là họ là bắt trước đấy. Chúng ta phải bắt trước người xưa cách viết thế nào, nét nào trước, nét nào sau.
(39:21) Chúng ta cũng phải bắt trước từng từng ly từng tí một. Như thế thì chúng ta viết sẽ rất là dễ dàng. Thì mỗi chữ đều có cái vị trí của nó. Ví dụ như là chúng ta viết chữ vạn chẳng hạn, đúng không? Chữ vạn. Ví dụ chữ vạn ở trên này trong chữ mẫu chúng ta nhìn thấy nét nào trước, nét nào sau, nét nào trước, nét nào sau, chúng ta cũng theo đó chúng ta viết.
(39:54) Đó, cũng thứ tự như này. Chúng ta viết đây là chữ vạn trong cái ô như thế này thì chúng ta sẽ lần lượt chúng ta cứ tập như thế, nhìn quen đúng vị trí của chữ, chúng ta cứ mô phỏng theo thì dần dần chữ chúng ta viết sẽ đẹp. Còn chữ đẹp hay không ấy lại tùy thuộc vào cái sự cố gắng nỗ lực của mỗi người cũng như là cái năng khiếu nghệ thuật của mỗi người nữa.
(40:19) Có khi thầy viết thì không đẹp đâu nhưng mà học trò học thì viết còn chữ đẹp hơn chữ của thầy. Đó là chuyện rất bình thường. Cho nên chúng ta cứ y theo người xưa học thì chúng ta học theo người xưa. Kể cả thư pháp cũng thế. Chúng ta y theo người xưa chúng ta học sau này chúng ta sẽ mở rộng rất là dễ. đấy là về phương diện hình của chữ chia sẻ đồng học về chúng ta sẽ học và sẽ viết như vậy.
(40:43) Và sau mỗi chữ chúng ta học tập thì chúng ta tập viết cho nhiều đến khi chúng ta thuộc thì thôi. Thuộc được cách viết, thuộc được chữ. Trong lúc chúng ta viết thì chúng ta cũng thuộc được âm đọc, đọc to chữ lên và chúng ta cũng thuộc được cái hình cái nghĩa của chữ là gì. Thứ hai là về phương diện âm của chữ. Về âm của chữ đối với người Việt Nam chúng ta thì là chúng ta à sẽ không tra điển tra âm đọc ở trong thuyết văn giải tự.
(41:15) Âm đọc trước văn giải tự thì chúng ta phải biết cách đọc trước. thì người chúng ta hiện tại là đã có cái từ điển và thời đại nay chúng ta học tập là đã có từ điển điện tử rồi thì chúng ta có cũng có thể là tận dụng cái phương án trước mắt là chúng ta tận dụng từ điển điện tử này để chúng ta tìm ra âm đọc của chữ chính xác nghĩa là gì? Một chữ thường thì có nhiều âm đọc nhưng mà trong đó có âm đọc gốc.
(41:43) Nó gắn liền với nghĩa gốc của chữ. Cho nên chúng ta đọc thì trước hết là chúng ta chọn một âm gốc để chúng ta đọc. Không không chọn cái âm hai. Ví dụ như là chữ huyên chẳng hạn. Như lúc nãy nói đồng học chữ huyên nó có khi đọc cũng có âm là đọc là tụng. Chữ huyên. Huyên. Huyên là hai bộ khẩu đấy. Chữ huyên như thế này. Đó. Hai bộ khẩu là huyên náo. Đấy.
(42:17) Chữ huyên này. Đây là chữ cổ. Chữ huyên cổ thì cũng có âm đọc là tụng nữa. Thế thì chúng ta phải tìm cái âm gốc để chúng ta đọc. T âm gốc nó sẽ gắn liền với cái nghĩa gốc. Cho nên là chúng ta chưa học được chữ khác thì ít nhất chúng ta từ ở trong những cái chữ mà chúng ta đang học là chúng ta cứ học theo đã.
(42:38) À những cái chữ đã chọn ra đây là chữ nào, âm đọc thế nào chúng ta lưu ý. Thì đây là nói về phương diện âm của chữ. Chúng ta về tra đi từ điển thì chúng ta có thể tra từ điển trích dẫn cũng được hoặc là tra các từ điển là mà đang được điện tử hóa ở trên mạng internet là chúng ta có thể cài đặt các từ điển.
(43:02) Ví dụ từ điển mà Việt thường dùng là cái TD chữ Hán là từ điển chữ Hán. Ấy cái phần này cái chữ này cái phần này nó à cái bộ từ điển này cũng tương đối đầy đủ từ âm đọc cho đến phân tích hình thể và thậm chí các cũng đưa ra được đầy đủ các cái phần liên quan đến lịch sử của chữ là gồm những à chữ viết từ giáp cốt văn cho đến lệ thư cho đến a à tiểu trện như thế nào ừ chúng ta cũng có thể tham khảo ở trong cái từ điển này.
(43:36) À tuy nhiên đây là phương án dự phòng, phương án gọi là chữa cháy trước mắt thôi. Về lâu dài muốn thâm nhập kinh điển, muốn thâm nhập sâu thì chúng ta vẫn phải dựa vào cuốn thuyết văn giải tự này. Đây là cuốn từ điển gốc mà chúng ta học tập. Thì như thế khi thâm nhập kinh điển thì chúng ta dựa vào cuốn này thì chúng ta mới biết được nghĩa gốc của chữ là gì.
(43:56) Bởi vì người xưa khi mà viết ra kinh điển thì đều là dựa vào cái nghĩa gốc này để viết ra. Chúng ta phải hiểu như thế. Về phương diện thứ ba của chữ là nói về nghĩa của chữ. Nghĩa của chữ thì chúng ta phải hiểu nghĩa gốc của chữ là gì. À khi chúng ta học Hán tự nhập môn, trong mỗi chữ thầy Lưu Khắc Hùng đều ghi rất là rõ cho chúng ta chữ này à ý nghĩa là gì, chữ gốc là gì và trải qua thời gian cái nghĩa khác là gì.
(44:32) Thì khi mà chúng ta học về nghĩa thì chúng ta lưu ý phải nhớ được nghĩa gốc. Ví dụ nói đến chữ vạn thì chúng ta phải nhớ nghĩa gốc của nó là con bò cạp. Nghĩa phái sinh của nó sau này sinh sôi ra được người ta sử dụng ra là nói về 10.000 một vạn ấy là cái nghĩa phái sinh thôi, không phải nghĩa gốc của chữ vạn.
(44:52) Là chữ đều là nghĩa mượn. Cho nên đây là cách chúng ta học về nghĩa để chúng ta bắt đầu học tập nhập môn. Đồng thời nếu mà đồng học nào chuyên sâu một chút thì cũng ở trong cái phần nhện nhập môn này chúng ta phải nhớ đọc thuyết văn giải tự, đọc cái phần đoàn chú. Trong mỗi chữ đều có phần chú thích.
(45:15) Trong chú thích thì có ghi là thuyết văn chép. Đây là cái phần ở trong thuyết văn. Còn nếu mà có cái dòng thứ hai, cái mục thứ hai mà ghi ấy thì có ghi là đoàn chú chép. Đoàn chú có nghĩa là chú giải của đoàn Ngọc Tài. À đoàn Ngọc Tài khi chúng ta cha họ của ông là họ Đoàn ấy thì chúng ta sẽ thấy có âm đọc là đoạn, âm đọc là đoàn thì chúng ta sẽ tra xố dưới cái phần nghĩa của cái chữ chúng ta sẽ thấy là họ đoàn.
(45:42) Thì âm này phải đọc là đoàn mới đúng. Còn chữ đoạn thì không phải. Cho nên là chúng ta đọc đây là đoàn chú. cũng giải thích cho đồng học về đoàn chú là như vậy. Đoàn chú là chú giải của đoàn Ngọc Tài. Ông Đoàn Ngọc Tài là người viết ra đây là cái cuốn thuyết văn giải tự chú của đoàn Ngọc Tài. Ví dụ chữ đoàn chúng ta viết như thế này.
(46:17) Đây là chữ đoàn. Chúng ta thường hay dùng thánh nghĩa này là chữ đoạn, đọc là đoạn nhiều hơn nh. Cho nên là khi mà à chúng ta đọc, chúng ta học kinh điển thì chúng ta phải tra đúng. Ví dụ chữ này là nói về nếu là nói về con người, nói về tên thì chúng ta phải nhìn xem phương phía dưới tên này thường đọc là gì? À âm này thường đọc là gì? Trong cái phần từ điển của chúng ta ấy, từ điển tiếng Việt đều ghi rất là rõ.
(46:52) Nếu như mà ví dụ như ghi đây là họ Đoàn thì chúng ta đọc là tên là Đoàn. Phải lưu ý về cái phần chúng ta khi tra từ điển là như thế. Và thứ tư về cái phần nghĩa thì chúng ta phải hiểu được cái nghĩa hiện tại chúng ta đang dùng thường dùng là gì và cái nghĩa biến đổi sau này như thế nào. Thì ở trong này chúng ta sẽ lần lượt à cùng học tập à từng chữ từng chữ một ở phía trên là mô tả cho các đồng học và nói qua các đồng học về một số cái phương pháp học tập.
(47:26) Thì ở đây chúng ta có à danh mục chữ tượng hình. Phần chính lệ chúng ta có khoảng 99 chữ. Phần biến lệ tăng thể thì chúng ta có khoảng 17 18 chữ. Phần chữ tỉnh thể thì có khoảng sáu chữ. Đây là những chữ trượng hình tổng cộng là 130 chữ. 130 chữ tượng hình này chúng ta cũng phải lên mục tiêu chúng ta học tập. Các đồng học chúng ta học tập.
(47:50) Ví dụ như là chúng ta dành thời gian một ngày là dành được thời gian bao nhiêu phút thì chúng ta học tập, chúng ta nghe giảng à chúng ta học tập bắt đầu từ à chữ nào chúng ta lại mở cái chữ đó ra nghe giảng chúng ta. Bởi vì trong quá trình chia sẻ ngoài cái việc đọc lại chia sẻ lại nội dung của thầy à à của thầy Lưu Khắc Hùng thầy viết ra thì Việt cũng có một số quá trình học tập có một số tấm đắc hoặc có một số điểm cần giải thích thêm thì cũng giải thích thêm cho đồng học để chúng ta hiểu rõ thêm về những chữ này.
(48:33) Và khi học tập thì chúng ta phải lưu ý là chúng ta à phải nhớ học chữ nào thì chắc chữ đó. Đặc biệt là chúng ta học từ gốc. Những chữ này đều là những chữ sơ văn. Những chữ này đều là những chữ sơ văn và sau này những chữ được tạo thành đều là ghép từ những chữ này mà thành. Cho nên những chữ này chúng ta học thuộc rồi, hiểu nghĩa gốc rồi thì sau này chúng ta biết mỗi chữ khi được ghép thành thì chữ này phần nào là phần tượng hình, phần nào là phần tượng thanh.
(49:11) Tức là có những chữ ghép vào để lấy âm thanh, lấy mượn âm thanh để mà ghép vào. Có những chữ thì mượn cả hình cả thanh để ghép vào thì chúng ta cũng phán đoán ra ngay và hiểu được nghĩa của chữ này. Nên a từ tiết tới thì chúng ta bắt đầu vào từng phần của từng chữ. À trước khi chúng ta kết thúc thì các đồng học một lần nữa muốn nhắc nhở à muốn chia sẻ các đồng học khi chúng ta học tập thì chúng ta phải dở sách Hán tự nhập môn ra.
(49:48) Đồng đồng học nào chúng ta chưa có sách thì chúng ta liên hệ với ban tổ chức với lớp học để chúng ta nhận được sách hoặc là chúng ta ở xa thì cũng có thể lấy bản mềm chúng ta in ra cầm sách giấy học thì có nhiều cái hay hơn trong đối với sách điện tử. Đương nhiên đồng học nào chúng ta có điều kiện học sách điện tử thì cũng là rất tốt, cũng tiết kiệm tiền yến giấy.
(50:13) Như vậy cũng rất là tốt. Nhưng mà đọc sách giấy thì chúng ta có thể dở đi dở lại rất là thuận tiện. Đặc biệt là chúng ta học nhập môn thì chúng ta dở lại rất là nhiều để tra cứu. Trong phần sau à khi chúng ta học tập thì mỗi một chữ chúng ta à bước vào thì cách học của chúng ta là bản thân khi chúng ta học thì Việt sẽ đọc à toàn bộ nội dung học tập của mỗi chữ.
(50:46) sau đó sẽ giải thích từng phần nếu có thể. Đồng học chúng ta à có thể khi mà không chưa có điều kiện đọc thì chúng ta cũng có thể nghe và chúng ta hiểu nhìn trên hình chúng ta có chữ viết mẫu, chúng ta có cách viết như thế nào và ý nghĩa nó ra sao. Phải luôn nhớ có hình, có âm, có nghĩa. Ở trong mỗi một chữ thì chúng ta có phiên âm chính là chúng ta âm đọc của chúng ta lấy là âm tiếng Việt.
(51:16) Đồng thời bên cạnh thì Việt cũng lấy cho đồng học phần à chú âm và bính phần bính âm ấy của tiếng Trung. Tiếng Trung thì người ta thường hay dùng chú âm hoặc là bính âm. Chú âm là cách mà người Đài Loan hay dùng và bính âm là dùng cho thông lệ quốc tế mà người Trung Quốc cũng thường hay dùng. Thế thì khi chúng ta đọc thì chúng ta tìm.
(51:46) Nếu có điều kiện thì chúng ta sau này chúng sẽ sẽ tìm cái cuốn thuyết văn giải tự chú. Đây là cuốn thuyết văn giải tự chú của Nghệ Văn Ấn Thư Quán Ấn Hành. Đấy, Nghệ Văn Ấn Thư Quán. Chính cuốn sách này là do thầy Lưu Khắc Hùng, thầy khuyến khích đồng học nên chọn cuốn sách này vì cuốn sách này là cuốn sách in tốt nhất và rõ ràng nhất.
(52:12) Đồng thời cái phần chú giải phía sau của đoàn Ngọc Tài ấy là chúng ta theo dõi rất là dễ dàng trong mỗi quyển sách. Đặc biệt đồng học nào mà biết một chút về tiếng Trung, biết một chút về chú âm, chúng ta biết mỗi âm đọc. Ví dụ như là khi chúng ta học thì chúng ta có mỗi âm đọc. Trong mỗi âm đọc như thế này thì ở phía sau cùng cái cuốn sách này chúng ta dở ngược.
(52:39) Ở phía sau cùng là từ trang 155 trở đi ấy thì có cái phần tra cứu của âm đọc. Tra cứu âm đọc của chữ này như thế nào và các âm đọc các chữ ở trong này chúng ta thông thường thuyết văn giải tự ngày xưa ấy là được xếp theo bộ thủ. Xếp theo bộ thủ 540 bộ thủ. Như vậy nếu như tra cứu theo khách ngày xưa thì trước hết đồng học phải thuộc được 540 bộ thủ của thuyết văn giải tự.
(53:10) Sau đó nhìn mỗi chữ chúng ta phải biết được là chữ này thuộc bộ thủ nào. Và muốn tra cứu chữ đó thì chúng ta phải tra từ trong bộ thủ này để chúng ta tra cứu. Cũng giống như 214 bộ thủ trong từ điển hiện đại ngày nay là lấy 214 bộ thủ đó làm gốc sau đó đếm số nét. Nhưng mà người xưa thì lấy cái bộ thủ 540 bộ thủ, đồng thời là phía sau đó là những chữ liên quan đến bộ thủ này cũng không quá nhiều đâu.
(53:39) Mỗi bộ thủ có bao nhiêu chữ đấy. Tổng cộng trong từ điển này có khoảng hơn 9000 chữ. Hơn 9000 chữ. Nó không nhiều như hiện nay. Thế thì cái cách tra cứu đối với âm đọc ở trong thuyết văn giải tự này thì khi đã biết âm đọc của chữ này là gì. Thực ra bây giờ không khó viết. Chúng ta có thể dùng rất nhiều cách để chúng ta biết được âm đọc của cái chữ này là gì, âm đọc phiên âm của bính âm là gì, chú âm là gì.
(54:05) Dựa vào đây chúng ta tra cứu ở trong cái trong cái sách thuyết văn tải tự chú của đàng ngọc tài ấy, phía của nhà xuất bản Ấn Thư Quán ấy à Nghệ văn Ấn Thư Quán. Nghệ văn Ấn Thư Quán thì chúng ta sẽ biết âm đọc. Từ đây trong âm đọc này chúng ta sẽ nhìn thấy là tra cứu trích dẫn cái trang nào thì từ cái âm đọc này sẽ tổng hợp lại những chữ nào có cùng một âm đọc này.
(54:33) Ví dụ ở đây à chữ vạn của chúng ta là tra cứu à đến cái chữ nào thì chúng ta cũng sẽ nhìn ra ngay. Đấy từng chữ từng chữ một ở trong này ghi rất là rõ. chúng ta nhìn thấy đều sắp xếp theo chữ cái. Chữ cái của chúng ta sắp xếp theo chữ cái từ alpha. Nếu mà dùng chú âm, dùng chú âm thì sắp xếp theo thứ tự alpha thì chúng ta có thể nhìn vào chú âm chúng ta à sắp xếp.
(55:04) Ví dụ như là chữ one chữ chữ vạn là one là chữ vạn hiện nay là viết là như thế. Thì chữ vạn ở đây à chúng ta tra cứu là viết là ở trang 152 những chữ đọc là à one. Đương nhiên là đối với âm đọc tiếng Trung và tiếng Việt thì sẽ khác nhau nhưng mà chúng ta cũng có thể tra cứu được bởi vì sách này là do người Trung Quốc biên soạn thì chúng ta tuy chưa biết tiếng Trung nhưng mà chúng ta cũng sẽ biết cách để chúng ta tra cứu.
(55:34) Như vậy thì từ cái âm đọc này chúng ta lại tra cứu ra. Ví dụ như ở đây nói đến trang 152 thì chúng ta lại dở ra trang 152 của cái phần trích dẫn. Trang 152 của phần trích dẫn ở trong này sẽ cho chúng ta nhìn thấy chữ vạn là ở trang bao nhiêu của sách thuyết văn giải tự. Chúng ta phải đi vòng như vậy. À ví dụ như ở đây nói với chúng ta là à chữ vạn ở trang bao nhiêu? Chữ vạn ở đây cha cứu chúng ta nhìn thấy là ở trang 746.
(56:17) 746. Trang 746 thì chúng ta lại dở phía trang 746 ở trong này ra thì chúng ta sẽ đọc được chữ vạn 746. Đây đây là chữ vạn ở trong này viết rất là rõ từ là chữ gì? Chữ vạn trùng dã. Đây đây vạn trùng dã. Thế chúng ta thấy tra cứu cũng rất là nhanh rất là dễ. Thì phần này sẽ quay lại cho các đồng học cái phần thứ tự hướng dẫn cụ thể để các đồng học có thể nắm được cái phần tra cứu để cho đối với đồng học nào mà đã biết một chút về tiếng Trung, đã biết một chút về cách tra cứu từ điển à đã biết một chút về à chữ về dịch thuật thì
(57:05) chúng ta có thể tra cứu thuyết văn giải tự. Từ đây nhờ thuyết văn giải tự mà chúng ta hiểu được nghĩa gốc của chữ. Đây là thâm nhập vào à văn tự, thâm nhập vào chữ viết. Văn tự là nền tảng của kinh điển. Cho nên là thâm nhập như thế lâu ngày trầy tháng khi chúng ta đọc quyển kinh lên chúng ta sẽ cảm thấy ý nghĩa của nó rất là sâu rộng.
(57:28) Chúng ta thâm nhập được rất là dễ dàng. Thì phần hôm nay mới chia sẻ cho các đồng học đến những cái phần cơ bản. Như vậy là từ buổi sau trở đi là chúng ta chỉ chuyên tập trung vào à từng chữ từng chữ một. Các đồng học chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận cách viết chữ này như thế nào, cách đọc chữ này ra sao và ý nghĩa của chữ có gì hay ho để chúng ta cùng nhau à thâm nhập.
(57:57) Chúng ta phải nhớ Khổng lão phu tử nói với chúng ta học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ. Học mà thường ôn tập thì có phải vui lắm sao? Cho nên cứ mỗi lần ôn tập, mỗi lần viết chữ thì ý nghĩa chúng ta lại lưu lộ ra thì chúng ta sẽ có rất nhiều khải thị ở trong đó. là từ cái phần sau các video mỗi buổi giảng chúng ta cũng có thể tách ra những cái phần nhỏ một để các đồng học dễ dàng tra cứu từng chữ học chữ nào thì chúng ta có thể tra cứu chữ đó thậm chí có thể chia sẻ để cho các đồng học khác dễ dàng hơn trong quá trình học tập buổi hôm nay
(58:42) chúng ta tạm dừng ở đây. Xin cảm ơn tất cả các đồng học đã lắng nghe. [âm nhạc]